Lý Thuyết Trò Chơi – Phần 6. Phân tích các thị trường với thông tin không cân xứng

Phần 6. Phân tích các thị trường với thông tin không cân xứng

(Tác giả: Nguyễn Văn Hoàng – Nguồn: Saga.vn)

GEORGE AKERLOF
MICHAEL SPENCE
JOSEPH STIGLITZ

(Năm 2001)

Trong hơn hai thập kỷ qua, lý thuyết về các thị trường với thông tin không cân xứng (asymetric information) đã và đang trở thành một lĩnh vực quan trọng và sống động trong nghiên cứu kinh tế. Ngày nay, các mô hình với thông tin không hoàn hảo (imperfect information) là những công cụ không thể thiếu của các nhà kinh tế. Mô hình này có phạm vi ứng dụng rất rộng rãi, từ các thị trường nông nghiệp truyền thống ở các nước đang phát triển đến các thị trường tài chính hiện đại ở các nền kinh tế phát triển. Nền tảng của lý thuyết này được thiết lập vào những năm 1970 do công lao của ba nhà kinh tế: George Akerlof, Michael Spence và  Joseph Stiglitz – những người được nhận giải Nobel về kinh tế năm 2001 nhờ “những phân tích về các thị trường với thông tin cân xứng”.

George Akerlof , bảo vệ luận án Tiến sĩ tại Học viện Công nghệ Massachuset – MIT năm 1966, là giáo sư tại Học viện Thống kê Ấn Độ và Trường Kinh tế London. Từ 1980 là giáo sư kinh tế danh dự của Đại học California tại Berkeley.

Michael Spence , đạt học vị Tiến sĩ ở Harvard năm 1972, là giáo sư tại Harvard và Trường Kinh Doanh, Đại học Stanford và cũng là Chủ nhiệm khoa của cả hai trường đại học này.

Joseph Stiglitz , giành học vị Tiến sĩ tại MIT năm 1967, là giáo sư tại Yale, Princeton, Oxford và Stanford, và Chuyên gia Kinh tế trưởng của Ngân hàng Thế giới. Từ năm 2001, là giáo sư Kinh tế học, Kinh doanh và các Vấn đề Quốc tế tại Đại học Columbia.

2001 – George A. Akerlof, A. Michael Spence, Joseph E. Stiglitz

akerlof.jpg spence.jpg stiglitz.jpg
Trong thực tế cuộc có nhiều vấn đề đặt ra cho các nhà kinh tế học như: tại sao lãi suất thường có ở mức quá cao trên thị trường tín dụng địa phương ở các nước thuộc thế giới thứ ba? Tại sao khi muốn mua những chiếc xe hơi đã sử dụng, mọi người lại thường tìm đến các đại lý chứ không tìm đến người bán trực tiếp? Tại sao các chủ đất giàu có không phải gánh chịu toàn bộ rủi ro canh tác trong hợp đồng với những người thuê đất nghèo khó? Các câu hỏi này tuy có vẻ như là khác nhau nhưng về thực chất đều mô tả những hiện tượng có cùng bản chất và đã đặt ra một thách thức cho lý thuyết kinh tế.

Những người đoạt giải Nobel kinh tế năm 2001 đã đưa ra một cách giải thích mang tính tổng quát và mở rộng lý thuyết nhằm lý giải về sự tồn tại trên thực tế thông tin không cân xứng, tức là tình huống một số người trên thị trường thường có nhiều thông tin tốt hơn so với những người khác. Chẳng hạn, những người đi vay biết nhiều hơn về khả năng trả nợ của mình so với những người cho vay; người bán biết nhiều hơn người mua về chất lượng của chiếc xe mà anh ta định bán; những người  mua hợp đồng bảo hiểm biết về rủi ro tai nạn đối với mình nhiều hơn công ty bảo hiểm; và những người thuê đất biết nhiều hơn chủ đất về hiệu quả công việc và các điều kiện canh tác của mình.

Lựa chọn đối nghịch - xe hơiAkerlof đã chỉ ra rằng tính không cân xứng về thông tin như vậy dẫn đến sự lựa chọn đối nghịch trên các thị trường. Do những người cho vay hoặc những người dự định mua xe chỉ có được thông tin không hoàn hảo, những người đi vay với khả năng trả nợ thấp hoặc những người bán xe hơi chất lượng thấp đã chiếm chỗ của những người khác trên thị trường và đẩy họ ra khỏi thị trường. Spence chứng minh rằng trong những điều kiện nhất định, những người được thông tin tốt hơn có thể cải thiện được kết quả hoạt động thị trường của mình bằng cách tìm ra tín hiệu về thông tin cá nhân của họ cho những người không có thông tin đôi khi có thể nắm bắt được thông tin từ một người khác có được thông tin tốt hơn thông qua việc sàng lọc, chẳng hạn bằng cách cung cấp những lựa chọn từ một danh mục các hợp đồng đối với một giao dịch cụ thể nào đó. Ví dụ, các công ty bảo hiểm có thể phân chia khách hàng của mình ra thành những nhóm có mức độ rủi ro khác nhau bằng cách đưa ra những chính sách phân biệt, trong đó mức phí bảo hiểm thấp hơn có thể bị đánh đổi bằng mức khấu trừ thu nhập cao hơn.

Bài viết của Akerlof vào năm 1970, “The Market for Lemons” là một nghiên cứu quan trọng nhất trong các công trình nghiên cứu về kinh tế học thông tin. Bài báo này mang những đặc điểm điển hình của một đóng góp có ảnh hưởng thực sự sâu sắc – nó thể hiện một ý tưởng tuy đơn giản nhưng mang tính sâu sắc với vô số ứng dụng thực tế. Trong bài viết này, Akerlof lần đầu tiên đưa ra một phân tích chính thức về các thị trường gặp phải vấn đề thông tin với tên gọi là sự lựa chọn đối nghịch. Ông phân tích thị trường của một hàng hóa trong đó người bán có nhiều thông tin hơn người mua về khía cạnh chất lượng của sản phẩm. Điều này được minh họa thông qua ví dụ cụ thể về thị trường của những chiếc xe hơi đã qua sử dụng: “a lemon” – một từ thông dụng dùng để chỉ một chiếc xe cũ có khuyết tật – đây là một cách nói ẩn dụ phổ biến trong từ vựng của các nhà kinh tế. Akerlof đã chỉ ra rằng, về mặt lý thuyết vấn đề thông tin có thể hoặc gây ra sự sụp đổ của toàn bộ thị trường, hoặc đưa thị trường vào tình huống lựa chọn ngược đối với sản phẩm chất lượng thấp.

Akerlof cũng chỉ ra sự phổ biến và tầm quan trọng của tính không cân xứng về thông tin, đặc biệt là ở những nền kinh tế đang phát triển. Một trong những ví dụ minh họa của ông về sự lựa chọn ngược là các thị trường tín dụng ở Ấn Độ vào những năm 1960, trong đó những người cho vay địa phương áp đặt mức lãi suất cao gấp hai lần mức lãi suất ở những thành phố lớn. Tuy nhiên, nếu một người nào đó vay tiền ở thành phố và sau đó cho vay ở nông thôn, trong khi người này không biết rõ về khả năng trả nợ kém và rủi ro thường đi liền với những người đi vay có khả năng trả nợ kém này, anh ta có khả năng thua lỗ lớn. Những ví dụ khác được đề cập đến trong bài báo của Akerlof là những khó khăn của người già trong việc tiếp cận bảo hiểm y tế và sự phân biệt đối xử với những người thiểu số trên thị trường lao động.

Một tư tưởng quan trọng trong bài báo cáo của ông là tác nhân kinh tế có thể có những kích thích đủ mạnh để bù đắp được những tác động ngược về thông tin đối với hiệu quả của thị trường. Akerlof cho rằng đã bắt đầu hình thành nhiều thể chế thị trường đang cố gắng giải quyết các vấn đề khó khăn do thông tin không cân xứng gây ra (ví dụ : đã xuất hiện những người bảo lãnh từ các hãng buôn xe hơi).

Spence đã đặt câu hỏi là làm thế nào mà các cá nhân có được thông tin tốt hơn về một thị trường nào đó lại có thể truyền, “phát tín hiệu” những thông tin này có một cách đáng tin cậy cho những cá nhân được thông tin kém hơn, nhằm tránh được những vấn đề liên quan đến sự lựa chọn ngược. Việc phát tín hiệu này đòi hỏi các tác nhân kinh tế phải có những công cụ có thể quan sát được và tốn kém nhằm làm cho các tác nhân khác tin vào khả năng của họ, hoặc một cách tổng quát hơn là về giá trị hoặc chất lượng sản phẩm của họ. Cống hiến của Spence là hình thành và phát triển ý tưởng này đồng thời tiến hành mô tả và phân tích ý nghĩa của nó.

Bài viết mang tính tiên phong của Spence từ năm 1973 (dựa trên luận án tiến sĩ của ông) đề cập đến giáo dục với tư cách là một tín hiệu về năng suất của thị trường lao động. Tư tưởng cơ bản của Spence là việc phát tín hiệu không thể thành công trừ khi chi phí phát tín hiệu là khác nhau đáng kể giữa những “người gửi tín hiệu”, chẳng hạn là những người xin việc. Người sử dụng lao động không thể phân biệt được những người xin việc có năng suất lao động thấp trừ khi những người có năng suất lao động cao chi phí nhiều hơn cho giáo dục so với những người có năng suất lao động thấp. Spence cũng chỉ ra khả năng tồn tại các trạng thái cân bằng “dựa trên kỳ vọng” khác nhau đối với giáo dục và tiền công, chẳng hạn đàn ông và người da trắng nhận được tiền công cao hơn so với phụ nữ và người da đen có cùng một mức năng suất.

Các nghiên cứu sau đó của Spence bao gồm một loạt ứng dụng giúp cho việc mở rộng lý thuyết này và khẳng định vai trò quan trọng của việc phát tín hiệu trong nhiều thị trường khác nhau. Các nghiên cứu này đề cập đến nhiều tính huống, bao gồm: các hoạt động quảng cáo tốn kém chi phí với tư cách là những tín hiệu của năng suất, việc cắt giảm mạnh giá cả thể hiện tín hiệu về sức mạnh của thị trường, việc trì hoãn những đòi hỏi tiền công là một tín hiệu về sức mạnh đàm phán, việc tài trợ bằng nợ chứ không phải bằng cách phát hành cổ phiếu mới là một tín hiệu về khả năng lợi nhuận, và chính sách tiền tệ gây ra suy thoái là một tín hiệu về những cam kết không nhượng bộ nhằm làm giảm mức lạm phát cao dai dẳng.

Một ví dụ về lĩnh vực này liên quan đến cổ tức. Tại sao các hãng lại trả cổ tức cho các cổ đông của mình khi chắc chắn biết cổ tức phải chịu một mức thuế cao hơn (thông qua việc tính trùng thuế) so với lợi tức vốn đầu tư? Việc giữ lại lợi nhuận trong hãng có vẻ như là một cách làm tốn chi phí ít hơn đối với cổ đông thông qua lợi tức vốn đầu tư của một cổ phiếu có giá cao hơn. Câu trả lời là cổ tức có thể hoạt động với tư cách là tín hiệu của một triển vọng có lợi. Các hãng có được “những thông tin từ bên trong” về khả năng lợi nhuận cao của mình sẽ chi trả cổ tức bởi vì thị trường sẽ hiểu điều này là một dấu hiệu tốt và do vậy sẵn sàng trả một mức giá cao hơn cho những cổ phiếu của hãng. Mức giá cổ phiếu cao hơn sẽ bù đắp cho những cổ đông về mức thuế tăng thêm mà họ phải trả cho cổ tức.

Một trong những bài báo cổ điển của Stiglitz, đồng tác giả với Michael Rothschild, đề xuất các vấn đề thông tin có thể được giải quyết như thế nào trên thị trường bảo hiểm –  thị trường mà các công ty không có thông tin về tình trạng rủi ro của từng khách hàng. Công trình này là một bổ sung cho những phân tích của Akerlof và spence thông qua việc nghiên cứu những hành động mà các tác nhân không có thông tin không cân xứng. Rothschild và Stiglitz chỉ ra rằng các công ty bảo hiểm (bên không có thông tin ) có thể áp dụng những biện pháp khuyến khích đủ hiệu lực đối với các khách hàng của mình (bên có thông tin) để “khám phá” thông tin về tình trạng rủi ro của khách hàng thông qua “Sự sàng lọc” trong trạng thái cân bằng có sàng lọc, các công ty bảo hiểm có thể phân biệt được các cấp độ rủi ro khác nhau trong số những người có hợp đồng bảo hiểm bằng cách cho phép họ lựa chọn từ một danh mục các hợp đồng bảo hiểm khác nhau, trong đó mực phí bảo hiểm thấp hơn có thể phải đánh đổi với mức chiết khấu thu nhập cao hơn.

167414.jpgStiglitz cùng với nhiều động tác giả khác chứng minh rằng các mô hình kinh tế có thể rất sai lầm nên chúng không đề cập đến tính không cân xứng của thông tin. Thông điệp chung của các tác gải này là trong điều kiện thông tin không cân xứng, nhiều thị trường có những kết quả hoàn toàn khác nhau. Về kết luận về hình thức hợp ký của những quyết định đối với khu vực công cộng cũng tương tự như vậy. Stiglitz phân tích tác động của thông tin không cân xứng trong nhiều bối cảnh khác nhau, từ tình trạng thất nghiệp tới việc thiết kế một hệ thống tối ưu. Những bài viết của ông đã đặt ra những nền tảng rất  quan trọng cho những nghiên cứu chuyên sâu hơn. Một trong những ví dụ minh họa là công trình của Stiglitz với Andrew Weiss về các thị trường tín dụng với thông tin không cần xứng. Stiglitz và Weiss chỉ ra rằng để giảm thiệt hại  do những khoảng cho vay xấu, điều tối ưu đối với các ngân hàng là hạn chế khối lượng vay thay vì tăng lãi xuất cho vay. Do việc phân bổ tín dụng là rất phổ biến nên tư tưởng này là bước tiến quan trọng trong việc xây dựng một lý thuyết có tính thực tế hơn về thị trường tín dụng. Tư tưởng của Stiglitz và Weiss có tác động đáng kể trong lĩnh vực tài chính công ty lý thuyết tiền tệ và kinh tế vĩ mô.

Phối hợp với Sanford Grossman, Stiglitz đã phân tích tính hiệu quả của các thị trường tài chính. Kết quả quan trọng của các tác giả này được mọi người biết đến qua nghịch lý Grossman- Stiglitz: nếu một thị trường có hiệu quả về mặt thông tin, tức là tất cả các thông tin liên quan được phản ánh trong giá cả thị trường, thì không có một tác nhân riêng lẻ nào có đủ động cơ để thu thập thông tin mà dựa trên đó giá cả được xác định

Stiglitz cũng là một trong những người sáng lập ra kinh tế học phát triển hiện đại. Ông chỉ ra rằng thông tin không cân xứng và các biện pháp kích thích kinh tế không đơn thuần là sự trừu tượng về mặt học thuật, mà là những hiện tượng rất cụ thể có giá trị giải thích và ảnh hưởng sâu rộng trong phân tích về các thể chế và điều kiện thị trường ở những nước đang phát triển. Một trong những nghiên cứu đầu tiên của ông về vấn đề thông tin liên quan đến việc phân chia lợi tức mùa màng, một hình thức tuy cổ xưa nhưng vẫn rất thông dụng của việc ký hợp đồng trong nông nghiệp. Một hợp đồng phân chia lợi tức mùa màng quy định rằng kết quả thu hoạch được chia cho chủ đất và người thuê theo một tỷ lệ cố định (thường là một nửa cho mỗi bên). Do chủ đất thường giàu hơn người thuê đất nên điều đó có vẻ như có lợi cho cả hai bên khi để cho chủ đất phải là bên gánh chịu toàn bộ rủi ro. Tuy nhiên,một hợp đồng như vậy sẽ không tạo cho người thuê đất một động cơ khuyến khích đủ mạnh để họ canh tác mảnh đất một cách có hiệu quả. Khi tính đến thực tế là chủ đất có thông tin kém hơn về điều kiện vụ mùa và nỗ lực làm việc của người thuê đất, việc ký hợp đồng dưới dạng phân chia lợi tức làm việc của người thuê đất, việc ký hợp đồng dưới dạng phân chia lợi tức mùa màng như vậy trong thực tế là một giải pháp tối ưu cho cả hai bên.

Ngoài nghiên cứu về thông tin cân xứng, Akerlof còn phát triển lý thuyết kinh tế khi xem xét từ góc độ xã hội học và nhân chủng học. Những đóng góp nổi bật nhất của ông trong lĩnh vực này liên quan đến hiệu quả của các thị trường lao động. Akerlof chỉ ra rằng những khía cạnh tình cảm như sự nhân nhượng của giới chủ có thể làm cho tiền lương được xác định ở mức cao và do vậy gây ra thất nghiệp. Ông cũng nghiên cứu cơ chế dẫn đến những ảnh hưởng bất lợi đối với hiệu quả kinh tế của những thông lệ xã hội ví dụ như chế độ đẳng cấp. Những nghiên cứu này của Akerlof được nhiều người biết đến và có ảnh hưởng lớn trong các lĩnh vực khoa học xã hội khác.

Cùng với nghiên cứu về hoạt động phát tín hiệu, Spence còn là người đi tiên phong trong việc196620.jpg ứng dụng những kết quả và tư tưởng của những người đoạt giải Nobel kinh tế năm 1996, Vickrey và Mirrlees, vào phân tích các thị trường bảo hiểm. Trong giai đoạn 1975-1985 ông là một trong những người đi đầu trong công trình mang tư tưởng lý thuyết trò chơi nhằm giải thích và làm sáng tỏ nhiều khía cạnh về hành vi chiến lược thị trường trong phạm vi một lý thuyết gọi là lý thuyết mới về tổ chức công nghiệp.

Nhiều đóng góp của Joseph Stiglitz đã làm thay đổi cách nghĩ của các nhà kinh tế học khác về hoạt động của các thị trường. Cùng với những đóng góp mang tính nền tảng của George Akerlof và Micheal Spence, cả ba tác giả đã thiết lập nên tư tưởng nòng cốt cho kinh tế học thông tin hiện đại.

Giải Nobel Kinh tế năm 2005 được trao cho Thomas Schelling Sinh năm 1921 ở Oakland, bang California Mỹ. nhận học vị tiến sĩ nghành kinh tế học năm 1951 ở đại học Harvard, Cambridge, MA, USA. Hiện Thomas Schelling là giáo sư danh dự của khoa kinh tế của Trường Chinh sách công thuộc trường Đại học Maryland, College Park, MD, USA. và Robert Aumann Về các công trình ứng dụng lý thuyết trò chơi. Chủ yếu công trình đạt giả Nobel của hai ông vận dụng lý giải những vấn đề có liên quan đến Chính Trị và quân sự nhằm giải quyết những mâu thuẫn và xung đột.

Và gần đây nhất là giải Nobel Kinh tế 2007: Lý thuyết trò chơi ”đảo ngược” được trao cho b a nhà khoa học người Mỹ nhận giải Nobel Kinh tế năm nay, Leonid Hurwicz, Eric Maskin và Roger Myerson, xuất thân là nhà toán học ứng dụng. Những nghiên cứu của họ đã có tác động lớn đến kinh tế học vi mô và được ứng dụng rộng rãi trong nhiều lĩnh vực.

“Thiết kế cơ chế” là một dạng lý thuyết trò chơi đảo ngược. Trong khi lý thuyết trò chơi tìm hiểu xem cá nhân sẽ hành xử như thế nào trong những hoàn cảnh nhất định khi có những tác nhân nhất định thì lý thuyết “thiết kế cơ chế” tìm cách thiết kế các hoàn cảnh và các tác nhân sao cho đạt được cách hành xử mong muốn.

(Phần sau Các quy tắc của trò chơi và một số ứng dụng)

Tài liệu tham khảo:

  • Bách khoa toàn thư về kinh tế học và khoa học quản lý, Tác giả A. Silem GS Đại học Tổng hợp Lion III, NXB Lao Động Xã Hội (2002)
  • Giải thưởng Nobel về Kinh tế học (1969-2002) 51 nhà khoa học và công trình, Tác giả PGS – TS Mai Ngọc Cường, NXB Thống Kê (2003)
  • Lịch sử các học thuyết kinh tế, Tác giả PGS – TS Mai Ngọc Cường, NXB Lý Luận Chính Trị (2005)
  • Kinh tế học vi mô, Chủ biên Robert S. Pindyck & Daniel L. Rubinfeld, NXB Khoa Học Kỹ Thuật (2000)
  • Kinh tế học, Chủ biên Pau A. Samuelson & Wiliam D. Nordhaus, NXB Thống Kê (2002).
  • Kinh tế học, Chủ biên David Begg & Stanley Fischer & Rudiger Dornbusch, NXB Thống Kế (2007)
  • Thingking Strategically , Chủ biên Avinash K. Dixit & Bary J. Nalebuff (Norton, New York, 1991) Đã được dịch ra tiếng việt bởi Gamibook & NXB Trí Thức liên kết phát hành (2007) với tựa “Tư Duy Chiến Lược (Lý thuyết trò chơi thực hành)”.
  • The Strategy of Conflict, Chủ biên THOMAS C. SCHELLING ”Giải Nobel kinh tế học 2005) Đã được dịch ra tiếng viêt với tựa “Chiến Lược Xung Đột” bởi NXB Trẻ, (2007)

———–&&———-

Gửi phản hồi

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s

%d bloggers like this: