Giải Nobel kinh tế 2010: Search frictions – Dale T. Mortensen, Peter A. Diamond & Christopher A. Pissarides

Giải Nobel Kinh tế 2010

(Nguồn: Vietnamnet.vn)


Càng nhiều trợ cấp thất nghiệp hấp dẫn được Chính phủ đưa ra thì tỷ lệ thất nghiệp sẽ càng cao và thời gian tìm việc sẽ càng lâu hơn.

Giải thưởng Quốc tế Nobel được công bố hàng năm vào tháng 10, bắt đầu từ năm 1901, cho những nhà nghiên cứu đạt thành tựu trong các lĩnh vực Vật lý, Hoá học, Văn học, Y học và Hoá bình. Riêng Giải Nobel kinh tế mãi đến năm 1968 nhân kỷ niệm 300 năm Ngân hàng Trung ương Thuỵ Điển, mới được thành lập.


Từ trái qua: Dale T. Mortensen, Peter A. Diamond và Christopher A. Pissarides, ba người đoạt giải Nobel Kinh tế 2010.

Giải này không do Nobel di chúc lại để trao tặng hàng năm, trích ra từ tiền lãi do tài sản của ông để lại. Nó được trao tặng từ năm 1969, trích ra từ tiền lãi của Ngân hàng Trung ương Thụy Điển (Sveriges Riksbank) cũng là để tưởng nhớ Alfred Nobel. Và việc trao giải Nobel kinh tế diễn ra trong cùng một buổi lễ trao giải Nobel chung vào ngày 10 tháng 12 (ngày mất của Nobel) hàng năm tại Stockholm, Thuỵ Điển.

Cho đến nay, giải Nobel kinh tế đã được trao 42 lần, cho 67 nhà kinh tế học; trong đó 47 người Mỹ.

Trong số này, 22 giải Nobel kinh tế chỉ trao cho 1 người, 15 giải trao cho 2 người, 5 giải trao cho 3 người (và 3 là con số tối đa cho tất cả các giải Nobel các ngành khác).

Người trẻ nhất có vinh dự nhận giải Nobel kinh tế là Kenneth J. Arrow, 51 tuổi nhận giải năm 1972. Còn người già nhất là Leonid Hurwicz, được trao giải năm 2007 khi ông đã tròn 90. Ông cũng chính là người già nhất được trao tặng giải Nobel nói chung (trong tất cả các lĩnh vực).

Phụ nữ được giải Nobel Kinh tế quả là hiếm hoi. Cho đến nay mới chỉ có một đại diện của phái đẹp, bà Elinor Ostrom, được trao giải năm 2009.

Cũng giống như giải Nobel trong lĩnh vực Văn học, Y học và Hoà bình chưa ai được giải Kinh tế đến 2 lần. Song là 2 vợ chồng hoặc 2 anh em cùng được giải Nobel, 1 về kinh tế và 1 về các ngành khác thì có. Gundra Myrdal (Nobel Kinh tế năm 1974) và vợ Ava Myrdal (Nobel Hoà bình 1982), Jan Tinbergen (Nobel Kinh tế năm 1969) và em là Nicholaas Tinbergen (Nobel Y học 1973).

Đúng 18h chiều ngày 11/10/2010, (theo giờ Việt Nam), Viện hàn lâm khoa học Hoàng gia Thụy Điển đã công bố giải Nobel Kinh tế, cho ba nhà nghiên cứu có thành tựu: “Đưa ra công thức mới cho sự tương tác trên thị trường, giữa bên có hàng hóa, dịch vụ, việc làm… với bên đi tìm kiếm”.

Hai nhà kinh tế học người Mỹ là Peter A. Diamond, sinh năm 1940, hiện công tác tại Viện công nghệ Massachusetts và Dale T. Mortensen, sinh năm 1939, công tác tại Đại học Northwestern, Illinois, Mỹ. Nhà kinh tế thứ 3 là Christopher A. Pissarides, sinh năm 1948, tại Nicosia, Cyprys, hiện công tác tại trường Kinh tế và Khoa học chính trị London, Anh quốc.

Pissarids, 62 tuổi bắt đầu nghiên cứu các vấn đề trong những năm 1970 khi tỷ lệ thất nghiệp của các nước châu Âu tăng lên nhanh chóng. Ông nói: “Hãy nghĩ về thất nghiệp, khi người đó mất việc làm như là kết quả của những thay đổi trong môi trường kinh tế“. Pissarides muốn nhìn vào những yếu tố giúp người bị thất nghiệp khỏi mất thời gian để đi tìm một công việc.

Ví dụ, có thể các cá nhân, tìm kiếm một công việc nào đó mất một quá trình? Ông và người đoạt giải cùng phát hiện ra rằng các yếu tố quan trọng nhất trong cuộc chiến chống thất nghiệp là người thất nghiệp được nhận trở lại làm việc càng nhanh càng tốt và rằng điều này không phải đào tạo nghề đỡ tốn kém.

Diamond, 70 tuổi, chuyên nghiên cứu hiệu quả, phát hiện ra rằng chi phí tìm kiếm thậm chí rất nhỏ có thể có tác động lớn vào việc cung cấp và nhu cầu được đáp ứng.

Dale T. Mortensen, 71 tuổi, được biết đến với tập trung nghiên cứu trong lĩnh vực kinh tế lao động, kinh tế vĩ mô và lý thuyết kinh tế. Trong thị trường lao động, ông đã tập trung vào doanh thu và phân bổ lại, nghiên cứu và phát triển và các mối quan hệ cá nhân.

Tựu trung lại, thành tựu của ba nhà nghiên cứu chính ở các mặt sau đây: Về việc các quy định, chính sách kinh tế ảnh hưởng như thế nào đến tình trạng thất nghiệp, việc làm còn trống và lương. Các quy định, chính sách kinh tế này có thể bao gồm trợ cấp thất nghiệp, quy định thuê và sa thải người làm. Một kết luận được rút ra là càng nhiều trợ cấp thất nghiệp hấp dẫn được Chính phủ đưa ra thì tỷ lệ thất nghiệp sẽ càng cao và thời gian tìm việc sẽ càng lâu hơn.

Ngoài thị trường lao động, lý thuyết của ba nhà khoa học còn có thể áp dụng cho nhiều lĩnh vực khác, đặc biệt là thị trường nhà đất. Số lượng nhà bán luôn thay đổi theo từng thời kỳ. Người bán tìm người mua và hai bên thỏa thuận giá cả cũng có thể mất nhiều hay ít thời gian. Lý thuyết tìm kiếm được dùng để giải quyết mối quan hệ trên cũng như để trả lời các câu hỏi khác về tiền tệ, kinh tế công, kinh tế tài chính, kinh tế vùng miền và kinh tế gia đình.

Tuy giải thưởng Nobel kinh tế mới trao hơn bốn mươi năm, nhưng xem ra nó thích hợp với thời đại và cũng là đất dụng võ của các nhà nghiên cứu khoa học.

——————————————–

(Tác giả: Nguyễn Văn Phú)

Kinh tế thị trường vận hành dựa vào quy luật cung cầu. Một người bán báo tại một sạp ven đường, chẳng hạn, sẽ quan sát, đo lường nhu cầu mua báo để nhận đúng số báo bán được hàng ngày, cũng như nhận đúng loại báo cho các nhu cầu khác nhau của người mua. Ở đây chất lượng từng tờ báo cùng loại không đóng vai trò gì đáng kể.

Nhưng thị trường không phải lúc nào cũng toàn các sản phẩm và dịch vụ đồng nhất như thế. Trên thị trường địa ốc, nhà rao bán đủ loại, đủ kiểu, người mua phải đi tìm, phải xem từng căn nhà, săm soi từng ưu khuyết điểm trước khi quyết định mua. Người bán cũng phải tìm cách tìm cho ra người mua phù hợp với căn nhà đang muốn bán. Thị trường xe hơi cũ cũng vậy.

Những thị trường loại này được gọi chung là thị trường tìm kiếm (search markets), với lao động là thị trường tiêu biểu nhất. Tìm kiếm như thế chắc hẳn sẽ gặp nhiều trở ngại. Ví dụ tôi cần tuyển một người giữ trẻ nhưng không biết tìm ở đâu, quảng cáo thì tốn kém, chắc gì người tôi cần tìm đọc đúng loại báo đó; ngược lại, người muốn tìm công việc giữ trẻ cũng không biết tìm việc ở đâu, không biết chủ nhà có máu dê hay không. Những trở ngại đó được gọi chung là search frictions, dịch bằng khái niệm gì cũng được như trở ngại, xung đột, va chạm, ma sát… trong tìm kiếm. Chúng là những vách ngăn, những vật cản trên thị trường làm người mua người bán không tự động tìm thấy lẫn nhau.

Thật ra những trở ngại trong tìm kiếm đó phức tạp hơn nhiều. Ví dụ, chính sách trợ cấp thất nghiệp (có thể làm méo mó cung cầu), kỹ năng của người tìm việc (kỹ năng cao dễ kiếm việc làm hơn nhưng cũng eo xèo tiền lương nhiều hơn), độ mở của thị trường thể hiện ở cách thức sa thải và tuyển dụng của các công ty (thất nghiệp ở châu Âu thấp hơn Mỹ cũng nhờ yếu tố này), tình hình thất nghiệp do chu kỳ kinh tế (suy thoái chắc hẳn kéo theo thất nghiệp nhiều) hay thất nghiệp do cấu trúc thị trường (sự bất tương xứng về cung cầu cho một kỹ năng nào đó), mối quan hệ giữa mức độ công việc có sẵn và mức độ thất nghiệp…

Giải Tưởng niệm Nobel năm nay trao cho Peter A. Diamond, Dale T. Mortensen và Christopher A. Pissarides chính là nhờ những nghiên cứu của họ về những trở ngại đó.

———-&&———

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s

%d bloggers like this: