Kinh tế học, vì sao nên nỗi? (1)

Kinh tế học, vì sao nên nỗi? (1)

(Tác giả: Paul Krugman – Dịch: Minh Tuấn – Hoàng Sơn – Nguồn: Cafef.vn)

Chủ quan khi bão manh nha hình thành. Hoảng loạn khi bão ập đến. Chia rẽ về cách khắc phục hậu quả cơn bão. Đó là kết quả gần ba thập kỷ lạc lối của kinh tế học.

I – NHẦM LẦN GIỮA SỰ THẬT VÀ CÁI ĐẸP

Hiện giờ khó mà tin được mới cách đây không lâu giới kinh tế học còn đang chúc tụng nhau về thành công của môn khoa học này. Những thành công trên cả lý thuyết lẫn thực tiễn đó đã mở ra một giai đoạn vàng của những người trong giới. Về mặt lý thuyết, họ nghĩ đã giải quyết được những tranh cãi nội bộ.

Do đó, trong một bài báo năm 2008 với tựa đề “Tình trạng vĩ mô” (tức là kinh tế vĩ mô, chuyên nghiên cứu các vấn đề lớn như suy thoái), Olivier Blanchard tại Học viện Công nghệ Massachusett, nay là kinh tế trưởng tại Quỹ tiền tệ quốc tế IMF, tuyên bố rằng “tình trạng vĩ mô vẫn ổn.” Cuộc chiến khi xưa đã kết thúc và đã có một “sự đồng thuận lớn về cách nhìn.” Trong thực tiễn, các nhà kinh tế tin rằng mình đã kiểm soát được mọi thứ: “vấn đề cốt lõi là ngăn ngừa suy thoái đã được giải quyết,” Robert Lucas từ ĐH Chicago tuyên bố năm 2003 trong bài diễn văn nhậm chức Chủ tịch Hiệp hội Kinh tế Mỹ.

Năm 2004, Ben Bernanke, cựu GS ĐH Princeton nay là Chủ tịch Hội đồng Thống đốc Cục dự trữ liên bang, tán dương “Thời kỳ ổn định lớn” về kinh tế trong hai thập niên vừa qua, mà ông cho rằng một phần là nhờ đóng góp của việc hoạch định chính sách kinh tế tốt hơn.

Năm ngoái, tất cả sụp đổ.

Rất ít nhà kinh tế thấy được cuộc khủng hoảng hiện nay đang tới, nhưng dự đoán sai lầm mới chỉ là vấn đề ít nghiêm trọng nhất của môn khoa học này. Quan trọng hơn là việc kinh tế học không nhận ra được khả năng nền kinh tế thị trường sẽ gặp phải những thất bại khủng khiếp.

Thời vàng son, các nhà kinh tế học tài chính đi đến chỗ tin tưởng rằng thị trường vốn đã ổn định – thực tế, cổ phiếu và các các loại tài sản khác luôn được định giá đúng. Các mô hình kinh tế đang thịnh hành không hề nhắc tới khả năng sẽ có một vụ sụp đổ như năm ngoái. Trong khi đó, các nhà kinh tế vĩ mô bị chia rẽ bởi nhiều quan điểm. Nhưng quan điểm chính là giữa những người khẳng định nền kinh tế thị trường tự do không bao giờ đi chệch hướng và những người tin rằng nền kinh tế có thể tạm thời chệch hướng nhưng có thể và sẽ được FED, với tất cả quyền năng của mình, điều chỉnh lại.

Cả hai bên đều không được chuẩn bị để đối phó với trường hợp nền kinh tế vẫn trật bánh dù FED đã nỗ lực hết sức.

Thời hậu khủng hoảng, sự chia rẽ này lại càng sâu sắc hơn bao giờ hết. Lucas nói kế hoạch kích thích kinh tế của chính quyền Obama là “thứ kinh tế học rác rưởi,” còn người đồng nghiệp cũng tại Chicago John Cochrane nói chúng dựa trên “những câu chuyện cổ tích” chẳng có chút uy tín. Đáp lại, Brad DeLong từ ĐH California, Berkeley, viết đó là một sự “sụp đổ về mặt tri thức” của trường phái Chicago, và chính người viết bài này đã từng viết rằng những lời bình luận của các nhà kinh tế trường phái Chicago là sản phẩm từ thời Trung Cổ của môn kinh tế vĩ mô, khi mà những kiến thức gian khó lắm mới giành được bị lãng quên.

Điều gì đã xảy ra đối với giới kinh tế học? Và hướng đi sắp tới của họ như thế nào?

Giới kinh tế học lạc lối vì họ, với hàng tá phương trình toán học hấp dẫn trong tay, đã nhầm lẫn giữa cái đẹp và sự thật. Cho đến trước cuộc Đại suy thoái, phần lớn các nhà kinh tế đều có quan điểm rằng chủ nghĩa tư bản là một hệ thống hoàn thiện hoặc đã gần hoàn thiện. Quan điểm đó không tồn tại được lâu trước thực tế thất nghiệp tràn lan, nhưng khi những ký ức về cuộc suy thoái phai nhạt dần, các nhà kinh tế lại trở về với quan điểm lý tưởng hóa xưa cũ về một nền kinh tế nơi những cá nhân hợp lý tương tác lẫn nhau trong một thị trường hoàn hảo, lần này còn được bọc thêm lớp vỏ toán học hấp dẫn. Chắc chắn sự lãng mạn về một thị trường lý tưởng ấy một phần là vì luồng gió chính trị đã thay đổi, một phần vì động lực tài chính.

Nhưng cho dù việc làm tại viện Hoover hay Phố Wall đều là những thứ giá trị, nguyên nhân chính của những thất bại của môn khoa học kinh tế là khát khao có một cách tiếp cận bao quát mọi vấn đề và toàn hảo về mặt tri thức đem lại cơ hội cho các nhà kinh tế thể hiện khả năng toán học của mình.

Đáng buồn là quan điểm lãng mạn và đơn giản hóa về nền kinh tế này khiến đa phần các nhà kinh tế lờ đi mọi thứ có thể khiến mình sai lầm. Họ nhắm mắt làm ngơ trước những hạn chế khiến một con người hiệu quả có thể bơm căng cũng như chọc thủng bong bóng tài sản; trước những vấn đề tại các tổ chức họat động một cách mù quáng; trước những sự không hoàn hảo của thị trường, đặc biệt là thị trường tài chính, có thể khiến “hệ tuần hoàn” của nền kinh tế phải trải qua những đợt suy giảm đột ngột không thể đoán trước được; và trước những nguy cơ nảy sinh khi chính các cơ quan điều tiết không còn tin vào sự giám sát nữa.

Khó mà nói trước được con đường phía trước của môn kinh tế học. Điều chắc chắn duy nhất là các nhà kinh tế sẽ phải học cách sống chung với sự hỗn loạn. Tức là họ sẽ phải nhận thức được tầm quan trọng của những hành vi bất hợp lý và thường là không đoán trước được, đối diện với sự không hoàn hảo mang tính cố hữu của thị trường và chấp nhận rằng còn lâu mới có một môn lý thuyết kinh tế học có thể bao quát được mọi vấn đề. Trong thực tiễn, điều đó có nghĩa là họ nên đưa ra những lời cố vấn chính sách cẩn trọng hơn và kiên quyết dỡ bỏ những tấm nệm kinh tế an toàn với niềm tin rằng thị trường sẽ giải quyết được mọi vấn đề.

II. TỪ SMITH TỚI KEYNES VÀ NGƯỢC LẠI

Sự ra đời của kinh tế học với tư cách một môn khoa học thường được cho là nhờ công của Adam Smith với việc xuất bản cuốn “Sự giàu có của các quốc gia” năm 1776. Trong suốt 160 năm sau đó lý thuyết kinh tế đã phát triển mạnh, nhưng thông điệp trung tâm vẫn là: Tin ở thị trường.

Đúng, các nhà kinh tế thừa nhận có những trường hợp thị trường có thể thất bại, trong đó quan trọng nhất là trường hợp của các “ảnh hưởng ngoại ứng”, những chi phí con người gây ra cho người khác mà không phải trả tiền, ví dụ như tắc nghẽn giao thông hay ô nhiễm. Tuy nhiên giả định cơ bản của các nhà kinh tế “tân cổ điển” (đặt theo tên những nhà lý thuyết cuối thế kỷ 19 đã phát triển thêm khái niệm của các nhà tiền bối “cổ điển”) là chúng ta nên đặt niềm tin ở hệ thống thị trường.

Tuy vậy, cuộc Đại suy thoái làm niềm tin đó tiêu tan. Thực tế, ngay cả khi mọi thứ đang sụp đổ một số nhà kinh tế vẫn khăng khăng rằng dù chuyện gì có xảy ra thì nền kinh tế thị trường vẫn đúng: “Đại suy thoái không chỉ toàn điều xấu,” Joseph Schumpeter tuyên bố năm 1934. Chúng là “những gì cần phải diễn ra.” Nhưng nhiều nhà kinh tế, cuối cùng là toàn bộ giới kinh tế học tìm đến những quan điểm của John Maynard Keynes để giải thích điều gì đã xảy ra và tìm giải pháp cho những cuộc suy thoái trong tương lai.

Dù bạn đã được nghe những gì, Keynes không hề muốn chính phủ vận hành nền kinh tế. Ông miêu tả phân tích của mình trong kiệt tác năm 1936, “Lý thuyết chung về việc làm, lãi suất và tiền tệ,” là “tương đối bảo thủ về mặt hàm ý.” Ông muốn chỉnh sửa chứ không phải thay thế chủ nghĩa tư bản.

Nhưng ông đã thách thức quan niệm rằng những nền kinh tế thị trường tự do có thể họat động không cần người giám sát, thể hiện sự coi thường đặc biệt đối với thị trường tài chính, thứ ông xem là đang bị thống trị bởi thói đầu cơ ngắn hạn mà chẳng quan tâm gì đến các yếu tố cơ bản. Ông kêu gọi chính phủ nên chủ động can thiệp, in thêm tiền và nếu cần thiết, chi tiêu mạnh tay cho các công trình công cộng để chống thất nghiệp khi suy thoái xảy ra.

Cũng cần hiểu rằng Keynes đã làm nhiều hơn so với chỉ đưa ra những lời khẳng định kiên quyết. “Lý thuyết chung” là một tác phẩm phân tích rất sâu sắc, có sức thuyết phục trước những nhà kinh tế trẻ tuổi tài năng nhất thời điểm đó. Dù vậy, câu chuyện của kinh tế học trong suốt nửa thế kỷ qua lại là câu chuyện về sự thoái trào của tư tưởng Keynes và trở về với chủ nghĩa tân cổ điển.

Sự phục hưng của trào lưu tân cổ điển ban đầu dưới sự lãnh đạo của Milton Friedman từ ĐH Chicago, người ngay từ năm 1953 đã khẳng định rằng kinh tế học tân cổ điển có thể chỉ ra con đường để họat động của nền kinh tế thực sự “vừa đem lại nhiều trái ngọt, vừa rất đáng tin cậy.” Thế còn những cuộc suy thoái thì sao?

Cuộc phản công của Friedman chống lại Keynes bắt đầu với một học thuyết có tên là chủ nghĩa trọng tiền. Những nhà trọng tiền, về cơ bản, không đồng ý với quan điểm rằng nền kinh tế thị trường cần được chủ động bình ổn. Các nhà trọng tiền khẳng định rằng chính phủ chỉ cần can thiệp một cách hết sức hạn chế, cụ thể là, để ngân hàng trung ương giữ cung tiền quốc gia tăng đều đặn (tổng tiền mặt trong lưu thông và tài khoản tiền gửi tại ngân hàng). Như vậy là đủ để ngăn ngừa suy thoái.

Friedman cùng người đồng nghiệp Anna Schwartz từng có một tuyên bố nổi tiếng rằng nếu Cục dự trữ liên bang hành động hợp lý, cuộc Đại suy thoái đã không xảy ra. Sau đó, Friedman đưa ra lập luận thuyết phục phản đối mọi nỗ lực có chủ đích nào của chính phủ nhằm đẩy tỷ lệ thất nghiệp xuống dưới mức “tự nhiên” (hiện nay được cho là vào khoảng 4,8% tại Mỹ): ông dự đoán rằng chính sách nới lỏng tiền tệ quá đáng sẽ chỉ dẫn đến lạm phát và thất nghiệp cao, một dự đoán đã được xác thực bởi thời kỳ đình lạm những năm 1970.

Uy tín của phong trào chống Keynes lại càng dâng cao mạnh mẽ.

Tuy vậy, cuối cùng phong trào chống Keynes cùng những người kế tục Friedman lại đi xa hơn nhiều so với quan điểm tương đối ôn hòa của ông. Trong giới kinh tế học tài chính, quan điểm coi thường thị trường tài chính, xem nó như “sòng bạc” của Keynes được thay thế bằng lý thuyết “thị trường hiệu quả” cho rằng với tất cả những thông tin sẵn có, thị trường tài chính luôn định giá đúng.

Trong khi đó, nhiều nhà kinh tế vĩ mô hoàn toàn phủ nhận cách giải thích của Keynes về suy thoái kinh tế. Một số còn trở lại với quan điểm của Schumpeter và những người biện hộ cho cuộc Đại suy thoái, xem suy thoái là điều tốt, là một phần trong quá trình điều chỉnh để thay đổi của nền kinh tế. Và kể cả những người không cực đoan đến thế cũng lập luận rằng mọi nỗ lực chống suy giảm kinh tế đều có hại hơn là có lợi.

Không phải nhà kinh tế vĩ mô nào cũng đi theo con đường đó: nhiều người tự gọi mình là những người “Keynes-mới”, họ tiếp tục tin vào vai trò chủ động của chính phủ. Dù vậy ngay cả họ cũng đồng ý với quan điểm rằng nhà đầu tư và người tiêu dùng hợp lý còn thị trường nói chung là luôn đúng.

Đương nhiên, cũng cố một số người không đi theo xu hướng chung: một số ít nhà kinh tế thách thức giả định về hành vi hợp lý, nghi ngờ niềm tin vào thị trường tài chính và chỉ ra hàng loạt những cuộc khủng hoảng tài chính trong lịch sử đã để lại những hậu quả kinh tế thảm khốc. Nhưng họ như đang bơi ngược dòng, không thể đả phá nổi tính tự mãn ngu ngốc đang lan tỏa trong toàn giới kinh tế khi ấy.

———-&&———-

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất / Thay đổi )

Connecting to %s

%d bloggers like this: