OMO basic

OMO basic

(Tác giả: NghiaTQ)

Nhân đọc bài nàybài này, tôi viết rõ hơn một số vấn đề về thị trường liên ngân hàng và OMO.

Thị trường liên ngân hàng (LNH) và thị trường mở (OMO) đều là thị trường cung cấp thanh khoản cho hệ thống NHTM. Điểm khác nhau là chủ thể tham gia, OMO là giữa NHTM và SBV, còn LNH là giữa các NHTM với nhau. OMO giao dịch thông qua các hợp đồng Repos (RP). Bên cạnh đó, để phục vụ cho khả năng thanh khoản, còn có RPs đa phương giữa các NHTM với nhau (Repo là hợp đồng bán kỳ hạn – cam kết mua lại sau một thời gian, ngược lại (mua – bán) là Revert Repos)

Thiếu thanh khoản, NHTM sẽ sử dụng: Vay lên NH hoặc RPs (OMO – Repos song phương, giữa NHTM và SBV) hoặc Repos đa phương giữa NHTM với NHTM (cũng như liên NH, nhưng có secured là GTCG). Nếu LS trên liên ngân hàng nhỏ hơn so với RPs (OMO) thì sử dụng vốn vay liên ngân hàng và ngược lại.

Lãi suất của cả hai loại này đều thể hiện trạng thái thanh khoản. Khi thanh khoản nóng lên, lãi suất đều tăng, tuy nhiên, trên OMO sẽ phản ứng chậm (hoặc không) do nó mang tính lãi suất chính sách, do sự điều chỉnh của SBV, còn LS liên ngân hàng mang tính thị trường, và do đó, nó sẽ tăng theo chiều hướng có thể cao hơn OMO. Khi cao hơn OMO sẽ xuất hiện vùng bù rủi ro thanh khoản. Nếu vùng này càng rộng có nghĩa là thanh khoản càng kém và tất nhiên, các NHTM đã sử dụng hết các loại GTCG để huy động trên OMO.

Quy trình của nó sẽ qua các giai đoạn: Tiền huy động (LSHĐ) à GTCG (Yield curve)/cho vay à RPs trên OMO (LS chính sách) /RPs với NH khác à Cho vay (LSCV) tín dụng/LNH.

Như vậy, nắm giữ GTCG nhiều sẽ an toàn và linh hoạt hơn tùy LS thị trường (không tính đến có thể trading các loại GTCG này). Ngoài ra, khi…hết cách, NHTM cũng có thể đáp ứng thanh khoản bằng việc Tái cấp vốn, vay SBV bằng cách cầm cố bộ hồ sơ tín dụng (như một số NH đã làm trong đợt khủng hoảng vừa rồi), tuy nhiên, lãi suất sẽ cao hơn so với LS trên OMO.

LS trên OMO thường dao động trong khoảng từ LS Chiết khấu – Lãi suất tái cấp vốn (hiện tại từ 6% – 8%)

(Chart vẽ từ dữ liệu của Reuters, ON và 1W là lãi suất liên ngân hàng)

Có hay không dùng vốn OMO cho vay lại Liên ngân hàng để kiếm chênh lệch (kinh doanh lãi suất?) Tất nhiên là có, nhưng đó không phải là mục đích đầu tiên.

Thực tế không thể so sánh lãi suất OMO và Lãi suất LNH, bởi, LS OMO là lãi suất chính sách của SBV, điều hành thị trường theo mục tiêu. LS liên NH thể hiện tính thị trường và trạng thái thanh khoản của thị trường. Nếu LS LNH tăng cao (có thể tìm kiếm lợi nhuận như trên) thì thông qua OMO, SBV sẽ đẩy mặt bằng LS xuống bằng cách bơm nhiều tiền với mức LS OMO thấp và LS LNH sẽ giảm xuống lại.

Sở dĩ SBV ngưng kỳ hạn 1w (LS 7%/năm) mà chủ yếu tập trung vào các kỳ hạn 2w và 3w (LS 7,5% và 8%) là để tăng cường tính ổn định của nguồn vốn ngân hàng. Vốn liên ngân hàng không dùng để cấp tín dụng và bị hạn chế bởi tỷ lệ 20% (so với vốn huy động TCKT & Dân cư), do đó, vốn OMO sẽ làm thay phần này. Có ý kiến cho rằng SBV nên cơ cấu kỳ hạn dài hơn, theo tôi thì không đơn giản và có thể xảy ra nhiều hệ lụy từ việc “hỗ trợ lãi suất cho NH”.

LS liên NH luôn nhỏ hơn LS OMO trong điều kiện bình thường, vì đơn giản, cho vay LNH được thực hiện khi vốn nhàn rỗi lớn (vốn khả dụng) – đối với người cho vay và khi LS OMO cao hơn LS người cho vay chấp nhận.

Tại sao VN luôn có LS liên NH thường cao hơn LS OMO, đơn giản vì, các NHTM quản lý vốn khả dụng sát nút, tức dự trữ tại SBV luôn vừa khít với dự trữ bắt buộc, cho nên, họ tính toán, muốn cho vay Liên NH, họ phải chuyển từ GTCT qua OMO đến LNH, mặt khác, ở VN có trường hợp kinh doanh lãi suất, một số NHTM trung bình sẽ làm trung gian cho vay lại các NHTM nhỏ từ nguồn vốn giá rẽ (LNH) của NHTM lớn (đặc biệt chênh lệch lớn khi các NHTM nhỏ hết hạn mức giao dịch – credit line ở các NH lớn hơn). Tại sao luôn có những lúc LS LNH quá thấp (OMO) so với LS OMO, đó thường rơi vào vùng cuối tháng, khi chuẩn bị dự trữ bắt buộc đã bị thừa (vì DTBB tính lũy kế), nên họ phải cố gắng để trạng thái DTBB âm xuống để không lãng phí vốn và tìm kiếm thêm lợi nhuận bằng cách cho vay, tuy nhiên, cũng sẽ có những trường hợp các NHTM khác không đủ nên đi vay lại để bù đắp sẽ làm LS cao hơn một chút. Tình trạng này hiện nay xảy ra thường xuyên vì tỷ lệ vốn huy động thị trường liên NH không vượt quá 20% so với thị trường 1. Một vấn đề nữa là, SBV không trả lãi suất cho khoảng tiền gửi vượt DTBB (interest rate on excessive reserves – IOER) nên càng làm cho tồn quỹ dự trữ tại SBV giảm xuống (ở Fed, cũng đã sử dụng IOER trong việc điều hành LS thị trường ngắn hạn trong kể khủng hoảng vừa rồi). Sự biến động cao hơn so với LS OMO sẽ giảm xuống nếu các NHTM có chiến lược quản lý thanh khoản (GTCG) hợp lý. Một vấn đề nữa là thị trường VN còn quá ít công cụ đáp ứng.

Với thị trường chứng khoán, quan trọng nhất vẫn là tình hình thanh khoản trong một khoảng thời gian đủ lớn và động thái của chính sách hơn là yếu tố tạm thời.

Thị trường phản ứng vừa qua do lãi suất tăng?!

————-

Ví dụ về Sự an toàn và linh hoạt: Huy động trên thị trường tiền gửi LS 10%/năm 100 tỷ. Đầu tư vào 20 tỷ TPCP với lợi suất 11%, cho vay 80 tỷ với LS 13%. NHTM sử dụng. Khi thiếu thanh khoản 20 tỷ để giải ngân cho vay, NHTM sử dụng 20 tỷ TPCP thông qua RP với SBV tại mức LS là 8%/năm. Sau đó cho vay lại với LS là 13%. Giả sử quá trình này xảy ra liên tục cho hết năm.

Ta có dòng tiền như sau: Trả lãi huy động: 10 tỷ, Thu lãi TPCP: 2,2 tỷ, Thu lãi cho vay: 10,4 tỷ

Chênh lệch ban đầu: 10,4 + 2,2 – 10 = 2,6 tỷ.

Nếu cho vay hết với mức 13% trên khoản 100 tỷ, thu lãi sẽ là: 13 tỷ.

Cho nên, nếu đầu tư trái phiếu thì thu lãi sẽ thấp hơn là 2,6 – 3 = 0,4 tỷ.

Tuy nhiên, lợi ích là gì, vay 20 tỷ với LS xấp xỉ là 8%, cho vay 13%, chênh lệch 5% trên 20 tỷ, tương đương là 1 tỷ. Bù vào khoản thiệt hại do không cho vay, ta được lợi thêm là 0,6 tỷ

Khoản 20 tỷ này sẽ dùng cho vay tín dụng nếu LS LNH thấp hơn 13%, nếu LS LNH thời điểm đó cao hơn 13% thì họ sẽ cho vay LNH và còn phụ thuộc vào thời gian nguồn tiền về (từ các khoản cho vay – trong 80 tỷ cho vay hoặc huy động thêm) để quyết định cho vay loại hình nào.

Khi LS liên NH quá thấp, NHTM sẽ vay LNH (thay vì OMO) để cho vay lại (tất nhiên là rủi ro – hiện nay bị cấm) và vẫn thu được lợi nhuận.

Nếu tình hình thanh khoản bị căng thẳng, LS LNH lên cao hơn OMO, NHTM đang nắm giữ GTCG sẽ lợi hơn NHTM không nắm giữ (hoặc ít, RPs hết!) khi có thể huy động vốn thông qua OMO với LS thấp hơn LNH.

* Về một số lãi suất LNH và VNIBOR, trên Blog của Ts. Giang có bài viết rất rõ: xem  ở đây.

Theo tôi nghĩ, SBV nên công bố VNIBOR theo cách của LIBOR, tức mức bình quân của các NHTM theo các offer của các NHTM khác, như vậy mới đạt được sự khách quan cao hơn (do VN có thể vấn đề này rất nhạy cảm) so với EURIBOR. Cách bình quân có trọng số là volume thì không thể hiện được signal do LS cao thường là do các NHTM nhỏ có thể nhận, tuy nhiên, NH nhỏ thì Vol giao dịch không nhiều, đối với các NHTM lớn, LS thấp hơn nhưng vol rất cao làm mặt bằng giảm xuống, trong khi đó, tình hình thực sự nóng! Ngoài ra SBV cũng nên tách bạch 2 loại, một loại VNIBOR được offer bởi các foreigner banks và một loại của local banks, FB thường có LS thấp hơn nhiều do nguồn vốn giá rẽ của họ nhiều (từ VND, USD, funding bằng nhiều nghiệp vụ khác nhau), trong khi tín dụng VND không lớn.

———-&&———-

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s

%d bloggers like this: