Nước nào sẽ thống trị thế giới trong thập kỷ tiếp theo?

Nước nào sẽ thống trị thế giới trong thập kỷ tiếp theo?

(Nguồn: Cafef.vn)

Thập niên kế tiếp hẳn thế giới không chỉ tiếp tục bị kéo về mà còn bị chi phối bởi hấp lực từ bên “Mặt trời mọc”.

“(Một) thập niên mà thế giới nghiêng về phía đông” – đó là tựa bài bình luận ngắn tổng kết thập niên đầu tiên thế kỷ XXI của sử gia Niall Ferguson (Đại học Havard) trên Financial Times (27-12-2009), và nếu quy chiếu theo trục quan điểm trên hẳn người ta có thể chẳng hồ nghi gì rằng thập niên kế tiếp hẳn thế giới không chỉ tiếp tục bị kéo về mà còn bị chi phối bởi hấp lực từ bên “Mặt trời mọc”.

Lý thuyết Decouple (cho rằng các nước thuộc nền kinh tế mới nổi đủ sức phát triển không cần thị trường Mỹ được đưa ra trước thời điểm khủng hảng kinh tế) đã trở nên phá sản khi suy thoái Mỹ dẫn đến suy thoái toàn cầu

Điều đó cũng có nghĩa sức mạnh phương Tây (sẽ) được sang tay cho châu Á. Ý kiến này thật ra chẳng mới mẻ. Trước thềm thế kỷ XXI, từng có vô số bài nhận định tương tự, nhưng 10 năm trôi qua, thực tế vẫn cho thấy sự mơ hồ của lập luận trên. Thế còn 10 năm kế tiếp?

Diều hâu gãy cánh?

Cuộc suy thoái toàn cầu đã làm bộc lộ ưu – nhược điểm của từng quốc gia và khu vực. Trong khi Trung Quốc thành công với chính sách kích cầu, Mỹ vẫn lội ngược dòng với sức cùng lực kiệt. Trên tờ Newsweek (ra ngày 7-12-2009), sử gia Niall Ferguson cho biết, con số lạc quan tăng trưởng của quý III năm 2009 tại Mỹ không thể có được nếu không nhờ chính sách kích cầu bằng tiền túi nhà nước. Thâm thủng năm tài khóa 2009 của Mỹ đã vọt hơn 1,4 ngàn tỉ USD, tức khoảng 11,2% GDP – theo phòng ngân sách quốc gia lớn nhất trong 60 năm.

Trong khi đó, tổng nợ quốc gia Mỹ dự báo có thể tăng từ 5,8 ngàn tỉ USD năm 2008 lên 14,3 ngàn tỉ USD năm 2019, chiếm từ 41% đến 68% GPD. Túi tiền rỗng luôn dẫn đến nhiều ảnh hưởng bất lợi. Theo CBO, ngân sách cho an ninh quốc gia Mỹ đã bắt đầu giảm. Theo kế hoạch hiện đại của Lầu Năm Góc, chi phí cho quốc phòng có thể điều chỉnh giảm từ 4% hiện tại còn 3,2% GDP vào năm 2015, rồi 2,6% GDP năm 2028. Trái hẳn với không khí ảm đạm tại Mỹ, Trung Quốc tiếp tục làm tốn bút mực giới bình luận về khả năng vượt bão khủng hoảng.

Ngày 25-12-2009, cục Thống kê quốc gia Trung Quốc cho biết, sau khi tính lại, GDP Trung Quốc, năm 2008 thật ra đạt đến 31,405 ngàn tỉ tệ (khoảng 4,6 ngàn tỉ USD), tức cao hơn 4,5% so với con số công bố trước đó, có nghĩa tăng trưởng GDP 2008 là 9,6% chứ không phải 9%.

Điều đó còn có nghĩa Trung Quốc sắp qua mặt Nhật để trở thành nền kinh tế lớn thứ hai toàn cầu (tháng 10-2009, Quỹ Tiền tệ quốc tế dự báo GDP Nhật năm 2009 có thể đạt 5,408 ngàn tỉ USD, cao hơn Trung Quốc 6%, và Nhật có thể buộc phải nhường vị trí thứ hai cho Trung Quốc vào năm 2010).

Cứ theo các con số cụ thể trên, không ít người không phải không có lý khi nghĩ rằng, thập niên kế tiếp hẳn sẽ thuộc về Trung Quốc trong khi Mỹ đang ở thời kỳ suy tàn dẫn đến suy vong trong tương lai gần. Tuy nhiên, việc xét đến khả năng liệu có phải thật sự diều hâu Mỹ đang gãy cánh và rồng Trung Quốc đang thăng thiên cần phải quan sát kỹ hơn. “Dự báo” về sự sụp đổ của “đế quốc” Mỹ trong thực tế chẳng phải xảy ra gần đây.

Cuối thập niên 50 thế kỷ trước, báo chí Mỹ từng phác họa viễn cảnh đen tối của Mỹ trước sự lớn mạnh của Liên Xô. Rồi từ cuối thập niên 90 đến nay, những “sấm truyền” tương tự vẫn liên tục xuất hiện với tần suất dày đặc trên mặt báo và truyền thông Mỹ. Cuối năm 2009, hai tác giả Brad Delong và Stephen Cohen còn tung ra quyển “The End of Influence” (Dấu chấm hết của ảnh hưởng) – nói về sự kết thúc của ảnh hưởng Mỹ với thế giới.

Vấn đề ở chỗ hầu hết ý kiến trên đều dựa vào ảnh hưởng của cuộc suy thoái hiện tại hoặc biện dẫn từ những sai lầm trong chính sách diều hâu thời Geogre W. Bush (phải thừa nhận rằng sự suy yếu nhiều mặt của Mỹ hiện nay, từ kinh tế đến ngoại giao, trong đó có việc bỏ lỏng “địa bàn” Đông Nam Á vô hình trung giúp Trung Quốc “thừa nước đục thả câu” bằng quan điểm “đường lưỡi bò” nhằm mục đích nuốt chửng biển Đông, là hậu quả trực tiếp của chính sách Bush!).

Những lát cắt chi tiết hơn của vấn đề

Trong thực tế, dù bị bầm dập bởi suy thoái, kinh tế Mỹ vẫn đứng đầu thế giới với trị giá 14,3 ngàn tỉ USD, gấp 3 so với nền kinh tế thứ hai thế giới là Nhật, và chỉ thấp hơn một chút so với nền kinh tế của 4 siêu cường là Nhật, Trung Quốc, Đức và Pháp. Mỹ hiện cũng đứng đầu thế giới xét về thu nhập bình quân đầu người – 47.000 USD, so với 44.000 USD của Pháp và Đức, 38.000 USD của Nhật, 11.000 USD của Nga, 2.900 USD của Trung Quốc và 1.000 USD của Ấn Độ.

Cần biết, nếu xét đến yếu tố dân số, Mỹ với hơn 300 triệu so với 1,4 tỉ Trung Quốc, khoảng cách giữa hai con số thu nhập giữa Mỹ và Trung Quốc thật ra còn cách xa đến nhiều lần. Với sự chênh lệch như vậy, bao giờ Trung Quốc mới bắt kịp Mỹ về thu nhập đầu người – một trong những tiêu chí để đánh giá sự giàu có của một quốc gia – còn là vấn đề ở thì tương lai bất định…

Sản lượng kinh tế (hàng hóa – dịch vụ…) của Mỹ cũng gần như luôn ở tỉ lệ ổn định trong nhiều năm. Không chỉ có “độ vênh” ở khoảng cách kinh tế, Mỹ còn bỏ xa nhiều nước xét về sức mạnh quân sự.

Năm 2008, Mỹ chi 607 tỉ USD cho quốc phòng, chiếm gần 1/2 tổng ngân sách quốc phòng thế giới. Không như nhiều ý kiến từng nhận định, rằng hai cuộc chiến Iraq và Afghanistan sẽ làm phá sản Mỹ, ngân sách cho hai cuộc chiến trên hiện khoảng 125 tỉ USD/năm, tức không đến 1% GDP (thời chiến tranh Việt Nam, ngân sách quốc phòng Mỹ chiếm 1,6% GDP).

Trái với hình ảnh này (hàng ngàn người xếp hàng xin việc tại Hợp Phì thuộc tỉnh An Huy ngày 1/3/2009), Trung Quốc đối mặt với viễn cảnh thiếu hụt nguồn lao động trong tương lai do dân số già

Không thể xét đến sức mạnh của một quốc gia mà không bàn đến giáo dục – nền tảng của mọi nền tảng cho phát triển bền vững. Năm 2005, Viện Hàn lâm Khoa học Hoa Kỳ tung ra báo cáo (mang tính cảnh báo) cho biết, Mỹ chẳng bao lâu nữa sẽ bị mất thế dẫn đầu về khoa học.

Báo cáo cho biết, năm 2004, có 600.000 kỹ sư tốt nghiệp ở Trung Quốc, 350.000 tại Ấn Độ, và Mỹ chỉ có 70.000, trong khi đào tạo tại Mỹ lại tốn kém (chi phí đào tạo một nhà hóa học hoặc kỹ sư Mỹ có thể dùng để thuê 5 nhà hóa học Trung Quốc hoặc 11 kỹ sư Ấn Độ).

Tuy nhiên, nói đến giáo dục, chất lượng mới là điều đáng bàn. Hơn nữa, cách “đếm” của Trung Quốc và Ấn Độ cũng là điều nên đề cập, khi mà những người tốt nghiệp trung cấp hai năm tại hai nước này cũng được gọi là “kỹ sư”.

Năm 2005, Viện Toàn cầu McKinsey từng công bố khảo sát thị trường lao động và nhận thấy tỉ lệ thỏa mãn trình độ và kiến thức chuyên môn của sinh viên tốt nghiệp tại 28 nước đang phát triển là rất thấp (theo Viện McKinsey, giới quản trị nhân sự tại các công ty đa quốc gia đánh giá rằng chỉ 10% kỹ sư Trung Quốc và 25% kỹ sư Ấn Độ là “có thể được sử dụng” so với 81% kỹ sư Mỹ).

Cần biết, Mỹ đầu tư đến 2,6% GDP cho giáo dục nâng cao so với 1,2% tại châu Âu và 1,1% tại Nhật. Tại Ấn Độ, hệ thống đại học mỗi năm cho tốt nghiệp 35-50 tiến sĩ khoa học máy tính, trong khi đó, tại Mỹ là 1.000. Hệ thống thi cử nặng nề còn là một trong những nguyên nhân bóp chết giáo dục châu Á.

Gút lại, để có cái nhìn tổng quát (và so sánh) về giáo dục Mỹ với châu Á, có thể lấy ý kiến của Bộ trưởng Giáo dục Singapore Tharman Shanmugaratnam làm kết luận: “Cả hai nước Mỹ – Singapore đều theo chính sách trọng dụng chất xám. Của quý vị (Mỹ) là chính sách trọng dụng người tài và của chúng tôi là trọng dụng thi cử.

Chúng tôi biết cách đào tạo người để đi thi trong khi quý vị biết cách tận dụng và phát huy tối đa tài năng. Cả hai đều quan trọng nhưng ở vài góc độ khi xét đến vấn đề chất xám, chúng tôi (Singapore) lại không thể kiểm nghiệm tốt nhân tài (bằng Mỹ) – chẳng hạn tính sáng tạo, óc tò mò, lòng ham muốn khám phá, tham vọng. Trên hết tất cả, Mỹ là một nền văn hóa tiếp thu dám thách thức những ý tưởng truyền thống, thậm chí khi điều đó đồng nghĩa với việc thách thức nhà cầm quyền”.

Đến lúc “cờ đến tay” Trung Quốc chưa?

Khó có thể nói một quốc gia là giàu nếu chỉ “điểm danh” vài anh tỉ phú. Giữa năm 2008, báo cáo của Ngân hàng Merrill Lynch cho biết Trung Quốc có nhiều triệu phú hơn cả Pháp. Tính đến cuối năm 2007, Trung Quốc có tổng cộng 414.900 người với tài sản hơn 1 triệu USD (chỉ sau Mỹ, Nhật, Đức và Anh). Tuy nhiên, thống kê của Chính phủ Trung Quốc cho thấy nông dân nước này chỉ kiếm được không bằng 1/3 so với dân thành thị, và nhà xã hội học nổi tiếng Tôn Lập Bình (Sun Liping) thuộc Đại học Thanh Hoa nói rằng, chuẩn sống giữa khu vực thành thị và nông thôn Trung Quốc khác nhau đến 6 lần…

Tính hiệu quả của kinh tế cũng là điều cần đề cập. Từ năm 1991 đến 1995, theo nhà nghiên cứu gốc Hoa Bùi Mẫn Hân (Minxin Pel, thuộc Viện Nghiên cứu Carnegie Endowment), 100 triệu tệ trong đầu tư vào các nguồn tài sản cố định của Trung Quốc mang lại lợi nhuận 66,2 triệu tệ cho GDP và tạo ra 400 việc làm mới, 10 năm sau, cũng theo ông Bùi Mẫn Hân, số tiền đầu tư tương tự chỉ mang lại 28,6 triệu tệ cho GDP và 170 việc làm.

Trên World Politics Review (ngày 25-12-2009), tác giả John Lee (Trung tâm Nghiên cứu độc lập tại Sydney, Australia) còn chỉ thêm rằng, chính sách kinh tế ưu ái hệ thống doanh nghiệp thuộc quản lý nhà nước là một trong những nguy cơ đe dọa kinh tế nước này trước mắt cũng như lâu dài. Năm 1978, số công ty nhà nước làm ăn không lãi là 19%, tăng lên 40% năm 1997, rồi 51% năm 2006.

Một mối lo lớn nữa đối với sinh mạng kinh tế Trung Quốc là khoảng cách giàu nghèo. Dù GDP quốc gia tăng phi mã nhưng khoảng 400 triệu người Trung Quốc đang chứng kiến tình trạng lương không tăng hoặc thậm chí giảm trong một thập niên qua (khảo sát của Ngân hàng Thế giới WB cho biết thu nhập 10% người nghèo nhất Trung Quốc giảm 2,4%/năm từ đầu thế kỷ XXI đến nay).

WB còn dự báo: đến năm 2015 sẽ có nhiều người Trung Quốc rời lực lượng lao động hơn so với tỉ lệ được thay thế và tình hình càng u ám vào năm 2030, khi 1/4 dân số Trung Quốc sẽ vượt quá 60 tuổi, so với 10% hiện nay. Dân số đông luôn dẫn đến nhiều mặt trái nan giải: tài nguyên bị khai thác ráo riết hơn, môi trường bị đối xử tệ hơn, nguồn nước ngọt (và sạch) khan hiếm hơn, ô nhiễm làm thiệt mạng gần 400.00 người Trung Quốc mỗi năm). Ngân sách nuôi 329 triệu người già vào năm 2050 của Trung Quốc chắc chắn chiếm tỉ lệ không nhỏ trong GDP…

Giả dụ tăng trưởng kinh tế Trung Quốc duy trì ổn định với 7%/năm (gấp đôi so với Mỹ) thì GDP Trung Quốc sẽ gấp đôi từ năm 2007-2015, tức từ 3,3 ngàn tỉ USD lên 6,6 ngàn tỉ USD, rồi lại gấp đôi vào trước năm 2025, lên 13,2 ngàn tỉ USD. Tuy nhiên, đó cũng là thời điểm mà GDP Mỹ lên đến 28 ngàn tỉ USD (nếu kinh tế Mỹ tăng trung bình 3,5%/năm)! Đây mới là một thực tế, “thật” đến mức có thể “sờ mó” được, hơn là những dự báo chỉ dựa vào các con số “khủng” trong tỉ lệ tăng trưởng mà lại không xét đến nhiều yếu tố bất cập trong mô hình phát triển cũng như thực tế bất bình đẳng xã hội…

Nói cách khác, trong thế kỷ XXI nói chung và thập niên kế tiếp nói riêng, hẳn sẽ có người còn tiếp tục mơ về “bao giờ cho đến cái ngày huy hoàng ấy” khi họ nhảy lên vị trí số 1 thống trị thế giới. Muốn thay thế vị trí Mỹ, trước hết phải chặt đứt được toàn bộ hệ thống mắt xích liên kết toàn cầu chằng chịt của Mỹ (chứ không chỉ bằng động thái đầu tư quân sự và ấp ủ tham vọng lấn chiếm khu vực theo kiểu “học làm siêu cường”). Điều này, (có lẽ) ít ra trong thế kỷ này, rõ ràng là bất khả thi!

———-&&———-

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất / Thay đổi )

Connecting to %s

%d bloggers like this: