Cơ sở lý thuyết của mô hình mạng (SEM) – Phần 1

Cơ sở lý thuyết của mô hình mạng (SEM) – Phần 1

(Tác giả: Phạm Đức Kỳ – Nguồn: mba-15.com)

1. Giới thiệu tổng quan mô hình mạng (SEM) – Mô hình SEM là gì 

Một trong những kỹ thuật phức hợp và linh hoạt nhất sử dụng để phân tích mối quan hệ phức tạp trong mô hình nhân quả là mô hình mạng SEM (Structural Equation Modeling). Mô hình SEM đã được sử dụng rộng rãi trong các lĩnh vực nghiên cứu như tâm lý học (Anderson & Gerbing,1988; Hansell và White, 1991), xã hội học (Lavee, 1988; Lorence và Mortimer, 1985), nghiên cứu sự phát triển của trẻ em (Anderson, 1987; Biddle và Marlin,1987) và trong lĩnh vực quản lý (Tharenou, Latimer và Conroy,1994). Đặc biệt mô hình này cũng được ứng dụng trong rất nhiều mô hình thỏa mãn khách hàng như : ngành dịch vụ thông tin di động tại Hàn Quốc (M.-K. Kim et al. / Telecommunications Policy 28 (2004) 145–159), Mô hình nghiên cứu sự trung thành của khách hàng Dịch vụ thông tin di động tại Việt nam (Phạm Đức Kỳ, Bùi Nguyên Hùng, 2007)…

<!––nextpage––>

Mô hình SEM là sự mở rộng của mô hình tuyến tính tổng quát (GLM) cho phép nhà nghiên cứu kiểm định một tập hợp phương trình hồi quy cùng một lúc.SEM có thể cho một mô hình phức hợp phù hợp với dữ liệu như các bộ dữ liệu khảo sát trong dài hạn(longitudinal), phân tích nhân tố khẳng định (CFA), các mô hình không chuẩn hoá,cơ sở dữ liệu có cấu trúc sai số tự tương quan, dữ liệu với các biến số không chuẩn(Non-Normality) , hay dữ liệu bị thiếu (missing data).

Đặc biệt, SEM sử dụng để ước lượng các mô hình đo lường (Mesurement Model) và mô hình cấu trúc (Structure Model) của bài toán lý thuyết đa biến.

Mô hình đo lường chỉ rõ quan hệ giữa các biến tiềm ẩn (Latent Variables) và các biến quan sát (observed variables).Nó cung cấp thông tin về thuộc tính đo lường của biến quan sát (độ tin cậy, độ giá trị).

Mô hình cấu trúc chỉ rõ mối quan hệ giữa các biến tiềm ẩn với nhau. Các mối quan hệ này có thể mô tả những dự báo mang tính lý thuyết mà các nhà nghiên cứu quan tâm.

Mô hình SEM phối hợp được tất cả các kỹ thuật như hồi quy đa biến, phân tích nhân tố và phân tích mối quan hệ hỗ tương (giữa các phần tử trong sơ đồ mạng) để cho phép chúng ta kiểm tra mối quan hệ phức hợp trong mô hình. Khác với những kỹ thuật thống kê khác chỉ cho phép ước lượng mối quan hệ riêng phần của từng cặp nhân tố (phần tử) trong mô hình cổ điển (mô hình đo lường), SEM cho phép ước lượng đồng thời các phần tử trong tổng thể mô hình, ước lượng mối quan hệ nhân quả giữa các khái niệm tiềm ẩn (Latent Constructs) qua các chỉ số kết hợp cả đo lường và cấu trúc của mô hình lý thuyết, đo các mối quan hệ ổn định (recursive) và không ổn định (non-recursive), đo các ảnh hưởng trực tiếp cũng như gián tiếp, kể cả sai số đo và tương quan phần dư. Với kỹ thuật phân tích nhân tố khẳng định (CFA) mô hình SEM cho phép linh động tìm kiếm mô hình phù hợp nhất trong các mô hình đề nghị.

2. Công dụng và lợi thế của mô hình mạng (SEM)

  • Kiểm định các giả thuyết về các quan hệ nhân quả có phù hợp (FIT) với dữ liệu thực nghiệm hay không.
  • Kiểm định khẳng định (Confirmating) các quan hệ giữa các biến.
  • Kiểm định các quan hệ giữa các biến quan sát và không quan sát (biến tiềm ẩn)
  • Là phương pháp tổ hợp phương pháp hồi quy, phương pháp phân tích nhân tố, phân tích phương sai.
  • Ước lượng độ giá trị khái niệm (cấu trúc nhân tố) của các độ đo trước khi phân tích sơ đồ đường (path analysis)
  • Cho phép thực hiện đồng thời nhiều biến phụ thuộc (nội sinh).
  • Cung cấp các chỉ số độ phù hợp cho các mô hình kiểm định.
  • Cho phép cải thiện các mô hình kém phù hợp bằng cách sử dụng linh hoạt các hệ số điều chỉnh MI (Modification Indices).
  • SEM cung cấp các công cụ có giá trị về thống kê, khi dùng thông tin đo lường để hiệu chuẩn các quan hệ giả thuyết giữa các biến tiềm ẩn.
  • SEM giúp giả thuyết các mô hình, kiểm định thống kê chúng (vì EFA và hồi quy có thể không bền vững nhất quán về mặt thống kê)
  • SEM thường là một phức hợp giữa một số lượng lớn các biến quan sát và tiềm ẩn, các phần dư và sai số.
  • SEM giả định có một cấu trúc nhân quả giữa các biến tiềm ẩn có thể là các tổ hợp tuyến tính của các biến quan sát, hoặc là các biến tham gia trong một chuỗi nhân quả.
——————————————————————–
——————————————————————-
Tài liệu khác:
[1] TÁC ĐỘNG CỦA CÁC YẾU TỐ QUẢN LÝ ĐẾN NĂNG SUẤT DOANH NGHIỆP
[2] THỰC HÀNH MÔ HÌNH CẤU TRÚC TUYẾN TÍNH (SEM) VỚI PHẦN MỀM AMOS
————-&&————-

Mô hình Black-Scholes

Mô hình Black-Scholes

(Người dịch: Camus – Nguồn: vietcurrency.com)

Nói đến option (quyền chọn) thì không thể không nói đến mô hình Black-Scholes. Emanuel Derman, head Quant group của Goldman Sachs trong cuốn tự truyện My life as a quant có giới thiệu vui về mô hình Black – Scholes như này:

“…
Cho tới nay, mô hình nổi tiếng nhất cũng như phổ biến nhất trong thế giới tài chính là mô hình định giá quyền chọn Black-Scholes. Nhà kinh tế học Steve Ross (ko phải bạn Stephen Ross, người khởi xướng Arbitrage pricing theory) trong cuốn từ điển kinh tế Palgrave đã viết “… lý thuyết định giá quyền chọn là lý thuyết thành công nhất không chỉ trong ngành tài chính, mà còn trong tất cả các ngành kinh tế.”

Mô hình Black-Scholes cho phép chúng ta xác định giá trị tương đối của một option (quyền chọn). Mô hình Black-Scholes cho chúng ta biết, theo một cách diệu kỳ, làm thế nào để sản xuất ra một quyền chọn dựa trên một cổ phiếu gốc và cung cấp chi phí ước tính để làm việc này. Theo như Black và Scholes, việc xây dựng các option giống như việc làm món hoa quả dầm, và cổ phiếu ở đây đóng vai trò giống hoa quả.

Giả sử như bạn muốn bán món hoa quả dầm đóng hộp gồm táo và cam, bạn sẽ đặt giá bán bao nhiêu cho một hộp một lít? Theo lẽ thường, bạn cần phải tham khảo giá thị trường của hoa quả tươi chưa chế biến, chi phí của việc đóng hộp cũng như chi phí phân phối. Sau đó bạn tính ra tổng chi phí của việc sản xuất ra hỗn hợp trên từ những thành phần đơn giản hơn.

Năm 1973, Black và Scholes đã chỉ cho chúng ta thấy có thể sản xuất ra một option của IBM bằng việc trộn một số cổ phiếu của IBM với tiền mặt, về mặt nguyên lý khá tương tự như việc bạn có thể làm ra món hoa quả dầm giữa táo và cam. Dĩ nhiên, việc sản xuất ra các option phức tạp hơn nhiều so với việc làm hoa quả dầm, nếu không đã có ai đó khám phá ra nó từ trước đấy. Trong khi tỷ lệ của hoa quả ổn định trong suốt thời gian được sản xuất ra (ví dụ như 50% là táo, 50% là cam), tỷ lệ của một quyền chọn lại thay đổi không ngừng. Quyền chọn yêu cầu việc điều chỉnh liên tiếp lượng cổ phiếu và tiền mặt trong thành phẩm tương ứng với mức hay đổi giá của cổ phiếu. Nói theo thuật ngữ hoa quả dầm Tô Tịch, bạn có thể bắt đầu với 50% táo và 50% cam, và sau đó, khi giá táo tăng lên, cốc hoa quả dầm của bạn sẽ là 40% táo và 60% cam; ngược lại giá táo giảm có thể đưa tới một cốc hoa quả dầm gồm 70% táo và 30% cam. Nói tóm gọn, bạn luôn cố gắng giữ mức giá của một cốc hoa quả dầm cố định, 7000 VND chẳng hạn, khi giá hoa quả thay đổi theo từng thời điểm khác nhau. Công thức pha chế chính xác bạn cần áp dụng theo đã được mô hình Black-Scholes tạo ra. Giải pháp của công thức Black-Scholes cho bạn biết chi phí của việc thực hiện công thức pha chế trên. Trước Black và Scholes, không ai có thể đoán ra được bạn có thể tạo lập lên một option từ những nguyên liệu đơn giản, và cũng không có cách nào để xác định được giá hợp lý của một option.

Khám phá này đã đem đến một cuộc cách mạng trong tài chính hiện đại. Với sự sáng suốt của mình, Black & Scholes đã đưa thị trường option lộn xộn trước đó vào trong một khuôn khổ chuẩn mực. Đám nhân viên giao dịch giờ đây có thể chế biến và bán các quyền chọn cho các loại chứng khoán khác nhau, tạo ra các mức rủi ro đáp ứng nhu cầu khách hàng muốn mà không phải ôm rủi ro về phía mình. Điều này giống như, trong một thế giới chết khát chưa đầy hydro và oxy, một ai đó bỗng tìm ra cách tạo ra nước H2O.

Đám dealer xài mô hình Black-Scholes để sản xuất, chế biến các loại option có thể bán cho khách hàng của mình. Chúng có thể tạo ra các loại option từ các loại cổ phiếu chúng mua trên thị trường. Ngược lại, chúng cũng có thể tách bóc các quyền chọn mà người khác bán cho mình bằng việc chuyển đổi chúng sang cổ phiếu để có thể bán ra thị trường. Bằng cách này, bọn dealer giảm rủi ro của mình xuống mức thấp nhất có thể (bởi vì mô hình Black-Scholes cũng chỉ là một mô hình, và không có một mô hình nào trong ngành tài chính có thể chính xác 100%, điều này dẫn đến bất khả thi trong việc xóa bỏ hoàn toàn rủi ro). Dealer sẽ thu phí quyền chọn (option premium) cho việc chế biến hay tách bóc này, giống như các bếp trưởng ở trong các nhà hàng nổi tiếng sẽ thu bạn không chỉ phí nguyên vật liệu thô mà còn cả phí công thức và kỹ năng họ sử dụng để chế biến ra các món ăn ngon, hay giống như một thợ may sẽ tính phí cho bạn tiền vật liệu và cả tiền công may để tạo ra những bộ trang phục hand-made.

Lịch sử của nghề quant ở Wall Street chính là lịch sử của các phương thức mà những người thực hành và các nhà lý thuyết cải tiến và mở rộng mô hình Black-Scholes. Trong suốt ba mươi năm gần đây, nó được ứng dụng không chỉ để tạo ra quyền chọn cổ phiếu mà còn tạo ra quyền chọn về bất cứ thứ gì bạn có thể nghĩ ra, từ trái phiếu kho bạc và ngoại tệ cho đến thời tiết. Đằng sau tất cả những biến thể đấy là ý tưởng nguyên bản: người ta có thể may đo ra những chứng khoán với rủi ro xác định từ những nguyên liệu đơn giản sử dụng một công thức xác định rõ làm thế nào để tiếp tục điều chỉnh tỷ lệ của chúng. Sự điều chỉnh phụ thuộc vào cách mà giá của các nguyên liệu di chuyển.

Bởi vì giá trái phiếu không di chuyển giống như giá cổ phiếu, công thức dành cho định giá quyền chọn trái phiếu phải khác so với công thức Black-Scholes cổ điển. Nhưng đây chỉ là một sự tinh chế. Khi một sản phẩm mới được tạo ra lần đầu, một mô hình kiểu Black-Scholes thô sơ cũng đủ đáp ứng nhu cầu. Sau đó, một cuộc chạy đua vũ trang bắt đầu. Do áp lực cạnh tranh gia tăng và spread (khoản lợi nhuận bọn dealer thu được nhờ sự chênh lệch giữa giá mua và giá bán) bị thu hẹp, bọn Quant ở các hãng khác nhau sẽ cải tiến và mở rộng mô hình ban đầu, thêm vào đó những thành phần mới và chính xác hơn miêu tả sự chuyển động của các nguyên liệu và từ đấy thu hoạch được những công thức tốt hơn cho món hoa quả dầm. Việc mở rộng mô hình đòi hỏi sự nắm vững các lý thuyết tài chính, các công thức toán học và máy tính. Đám Quant làm việc ở giao điểm của ba yêu cầu đấy.

Cuộc đời của một thằng Quant trong một hãng trading tương đối khác so với cuộc đời của một nhà vật lý. Cuối năm 1985, sau nhiều năm nghiên cứu vật lý, tao (thằng tác giả) bắt đầu làm việc ở Wall Street. Khi đấy sếp mới yêu cầu tao cải tiến bước thứ hai của một mô hình định giá kiểu Black-Scholes đang gặp trục trặc mà hắn đã tạo ra một năm trước đó. Tao bắt đầu tiến hành một cách chậm rãi và cẩn thận, làm việc như một nhà vật lý. Tao đọc những bài báo liên quan, nghiền ngẫm lý thuyết, chẩn đoán vấn đề, và bắt đầu viết lại chương trình máy tính giúp mô hình chạy. Sau đó vài tuần, thằng sếp bắt đầu mất kiên nhẫn với tiến độ thực hiện của tao. “Mày biết không,” hắn nói với một giọng sắc gọn khi gọi tao tới bên, “trong nghề này mày chỉ thực sự cần biết bốn thứ: cộng, trừ, nhân và chia – và trong hầu hết các trường hợp mày có thể bỏ qua phép chia luôn!”

Tao ghi nhận điểm này. Tất nhiên, mô hình sử dụng nhiều toán cao cấp hơn chứ không chỉ số học thuần túy. Tuy vậy quan điểm của hắn chính xác. Đa phần bọn dealer kiếm sống bằng việc tạo ra những sản phẩm khách hàng cần càng hiệu quả càng tốt để tạo ra dịch vụ thu phí. Với bọn dealer, một mô hình đơn giản, dễ hiểu có hữu ích hơn là một mô hình tốt nhưng lại phức tạp. Việc quá bận tâm đến các chi tiết mà bạn không thể đạt được chính xác có thể là một trở ngại khi mà bạn đang kiếm được một biên độ lợi nhuận lớn và bạn muốn hoàn thành được càng nhiều vụ thỏa thuận càng tốt. Và hơn nữa, thường rất khó để xác định chính xác cái gì tạo nên một mô hình tốt hơn – khi mà các cuộc thử nghiệm trên các thị trường khá hiếm. Mặc dù tao không ngừng cải thiện mô hình, bọn trader được hưởng lợi chủ yếu từ giao diện thân thiện với người sử dụng mà tao lập trình ra. Sự thay đổi thiết kể đơn giản này có tác động đối với công việc của họ lớn hơn việc xóa bỏ những mâu thuẫn nhỏ nhặt.

Mặc dù lý thuyết quyền chọn được khởi nguồn từ thế giới cổ phiếu, nó được áp dụng rộng rãi hơn trong thị trường thu nhập cố định (fixed-income market). Cổ phiếu (ít nhất trong cái nhìn đầu tiên) thiếu các chi tiết toán học. Nếu mày sở hữu một loại cổ phiếu, bạn không được đảm bảo bất cứ điều gì ở đây. Tất cả những gì mày thực sự biết chỉ là giá cổ phiếu có thể tăng hoặc giảm. Ngược lại, các chứng khoán thu nhập cố định như trái phiếu là những cơ chế công phu cho phép tạo ra những khoản thu nhập định kỳ trong tương lai của lợi tức và một khoản hoàn trả vốn cuối cùng. Điểm riêng biệt này làm cho thị trường thu nhập cố định trở thành một công việc kinh doanh mang tính số học hơn cổ phiếu, và đòi hỏi phải phân tích toán học nhiều hơn. Tất cả các chứng khoán có thu nhập cố định – trái phiếu, chứng khoán bất động sản, trái phiếu chuyển đổi và swap chẳng hạn – có một giá trị mà nó phụ thuộc vào, và từ đó được coi như là một sản phẩm phái sinh của thị trường dựa theo lãi suất. Các sản phẩm phái sinh lãi suất này là các sản phẩm tự nhiên hấp dẫn đối với các doanh nghiệp, những mà người mà một phần trong công việc kinh doanh của mình, phải vay mượn tiền để phát hành trái phiếu có giá trị thay đổi khi lãi suất hoắc tỷ giá thay đổi. Việc tạo ra những mô hình thực tiễn mô phỏng sự chuyển động của lãi suất khó khăn hơn nhiều, bởi vì lãi suất thay đổi theo những cách phức tạp hơn so với giá cổ phiếu. Việc mô hình lãi suất đã trở thành cội nguồn của các phát minh trong lý thuyết về các sản phẩm phái sinh trong suốt hai mươi năm qua. Đây chính là khu vực mà bọn Quant xuất hiện nhiều như ruồi.

Ngược lại, Quant ít khi hiện diện trong thế giới cổ phiếu. Ở đó, đa phần các nhà đầu tư chỉ quan tâm đến việc mua cổ phiếu gì, một vấn đề mà các công thức toán học cao cấp không chiếu sáng tới được. Các sản phẩm chứng khoán có thu nhập cố định và cổ phiếu có những nền tảng cơ bản khác nhau. Khi mày dạo bước trong một sàn giao dịch fixed-income sôi động, mày nghe thấy những con số – yield hoặc spread – vang lên trên những tiếng gào hét. Khi mày ở trên một sàn giao dịch cổ phiếu, đa phần mày chỉ nghe thấy bọn nó hét lên tên các công ty hoặc mã cổ phiếu. Buôn bán fixed-income đòi hỏi việc nắm vững công nghệ và các phương pháp định lượng hơn là buôn bán cổ phiếu. Một thằng trader bạn tao đã tổng kết điều này khi mà tao bình luận với nó là tụi fixed-income trader tao biết có vẻ thông minh hơn bọn trader làm cổ phiếu, nó trả lời thế này “bởi vì chẳng có nền tảng cạnh tranh nào giúp mày thông minh trong việc kinh doanh cổ phiếu”.
… “

——————

Công cụ định giá quyền chọn online: http://www.hoadley.net/options/optiongraphs.aspx?

Nguồn file excel để tính giá quyền chọn (các loại quyền chọn + các mô hình): http://www.global-derivatives.com/index.php?option=com_content&task=view&id=173

———–&&————

Mô Hình Phân Tích Tài Chính Dupont

Mô Hình Phân Tích Tài Chính Dupont

(Dịch: Phạm Sơn Huyền – Nguồn: DGTASK)

Mô Hình Phân Tích Tài Chính Dupont là gì

Mô hình Dupont là kỹ thuật có thể được sử dụng để phân tích khả năng sinh lãi của một công ty bằng các công cụ quản lý hiệu  quả truyền thống. Mô hình Dupont tích hợp nhiều yếu tố của báo cáo thu nhập với bản cân đối kế toán.

Nguồn Gốc Mô Hình Dupont

Mô hình phân tích tài chính Dupont được phát minh bởi F.Donaldson Brown, một kỹ sư điện người đã gia nhập bộ phận tài chính của công ty hóa học khổng lồ này. Một vài năm sau đó, Dupont mua lại 23% cổ phiếu của tập đoàn General Motors . Và giao cho Brown tái cấu trúc tình hình tài chính lộn xộn của nhà sản xuất xe hơi này. Đây có lẽ là lần cải tổ trên qui mô lớn đầu tiên ở Mỹ.Theo Alfred Sloan, nguyên chủ tịch của GM, phần lớn thành công của GM về sau này có sự đóng góp không nhỏ từ hệ thống hoạch định và kiểm soát của Brown. Những thành công nối tiếp đã đưa mô hình Dupont trở nên phổ biến trong các tập đoàn lớn  tại Mỹ. Nó vẫn còn được sử dụng cực kỳ rộng rãi trong việc phân tích báo cáo tài chính đến những năm 1970.

Ứng Dụng Mô Hình Dupont

. Mô hình có thể được sử dụng bởi bộ phận thu mua và bộ phận bán hàng để khảo sát hoặc giải thích kết quả của ROE, ROA,…

. So sánh với những hãng khác cùng  ngành kinh doanh

. Phân tích những thay đổi thường xuyên theo thời gian

. Cung cấp những kiến thức căn bản nhằm tác động đến kết quả kinh doanh của công ty

. Cho thấy sự tác động của việc chuyên nghiệp hóa chức năng mua hàng.

Các Bước Trong Phương Pháp Dupont

. Thu nhập số liệu kinh doanh ( từ bộ phận tài chính )

. Tính toán ( sử dụng bảng tính )

. Đưa ra kết luận

. Nếu kết luận xem xét không chân thực , kiểm tra số liệu và tính toán lại

Thế Mạnh Của Mô Hình Dupont

. Tính đơn giản. Đây là một công cụ rất tốt để cung cấp cho mọi người kiến thức căn bản giúp tác động tích cực đến kết quả kinh doanh của công ty

. Có thể dễ dàng kết nối với các chính sách đãi ngộ đối với nhân viên

. Có thể được sử dụng để thuyết phục cấp quản lý thực hiện một vài bước cải tổ nhằm chuyên nghiệp hóa chức năng thu mua và bán hàng. Đôi khi điều cần làm trước tiên là  nên nhìn vào thưc trạng của công ty. Thay vì tìm cách thôn tính công ty khác nhằm tăng thêm doanh thu và hưởng lợi thế nhờ quy mô, để bù đắp khả năng sinh lợi yếu kém .

Hạn Chế Của Mô Hình Phân Tích Dupont

. Dựa vào số liệu kế toán cơ bản nhưng có thể không đáng tin cậy

. Không bao gồm chi phí vốn

. Mức độ tin cậy của mô hình phụ thuộc hoàn toàn vào giả thuyết và số liệu đầu vào.

Điều Kiện Áp Dụng Phương pháp Dupont

. Số liệu kế toán đáng tin cậy.

Vậy phương pháp Dupont là gì?

Các tỷ số phân tích theo phương pháp so sánh được trình bày ở phần trên đều ở dạng một phân số. Điều đó có nghĩa là mỗi tỷ số tài chính sẽ tăng hay giảm tùy thuộc vào hai nhân tố: mẫu số và tử số của phân số đó. Mặt khác các tỷ số tài chính còn ảnh hưởng lẫn nhau. Hay nói cách khác một tỷ số tái chính lúc này được trình bày bằng một vài tỷ số tài chính khác.

Lúc này ta có thể phân tích tỷ suất sinh lợi trên vốn cổ phần theo hiệu suất sử dụng vốn cổ phần và tỷ suất lợi nhuận trên doanh thu.

Muốn tăng tỷ suất sinh lợi trên vốn cổ phần ta cần tăng hiệu suất sử dụng tổng tài sản, tức sử dụng tối đa công suất tài sản, hoặc tăng tổng số tài sản trên vốn cổ phần tức cần sử dụng công cụ nợ, hoặc tăng tỷ suất lợi nhuận trên doanh thu tức là cố giảm chi phí.

Ví dụ tham khảo: Mo-hinh-phan-tich-tai-chinh-dupont-4-ROA

——————————

(Nguồn: ssc.gov.vn)

Mô hình Dupont là kỹ thuật được sử dụng để phân tích khả năng sinh lời của một doanh nghiệp bằng các công cụ quản lý hiệu quả truyền thống. Mô hình Dupont tích hợp nhiều yếu tố của báo cáo thu nhập với bản cân đối kế toán. Trong phân tích tài chính, người ta vận dụng mô hình Dupont để phân tích mối liên hệ giữa các chỉ tiêu tài chính. Chính nhờ sự phân tích mối liên kết giữa các chỉ tiêu tài chính, chúng ta có thể phát hiện ra những nhân tố đã ảnh hưởng đến chỉ tiêu phân tích theo một trình tự nhất định.
            Dưới góc độ nhà đầu tư cổ phiếu, một trong những chỉ tiêu quan trọng nhất là hệ số lợi nhuận trên vốn chủ sở hữu (ROE). Do vốn chủ sở hữu là một phần của tổng nguồn vốn hình thành nên tài sản, nên ROE sẽ phụ thuộc vào hệ số lợi nhuận trên tổng tài sản. Mối quan hệ này được thể hiện bằng mô hình Dupont như sau:

Dupont-1

                             Hay, ROE = ROA x Đòn bẩy tài chính
              Vì vậy, mô hình Dupont có thể tiếp tục được triển khai chi tiết thành:
Dupont-2
         Hay, ROE = Hệ số Lợi nhuận ròng x Hiệu suất sử dụng tổng tài sản x Đòn bẩy tài chính
              Trên cơ sở nhận biết ba nhân tố trên, doanh nghiệp có thể áp dụng một số biện pháp làm tăng ROE như sau:
             – Tác động tới cơ cấu tài chính của doanh nghiệp thông qua điều chỉnh tỷ lệ nợ vay và tỷ lệ vốn chủ sở hữu cho phù hợp với năng lực hoạt động.
             – Tăng hiệu suất sử dụng tài sản. Nâng cao số vòng quay của tài sản, thông qua việc vừa tăng quy mô về doanh thu thuần, vừa sử dụng tiết kiệm và hợp lý về cơ cấu của tổng tài sản.
              – Tăng doanh thu, giảm chi phí, nâng cao chất lượng của sản phẩm. Từ đó tăng lợi nhuận của doanh nghiệp.
            Tóm lại, phân tích báo cáo tài chính bằng mô hình Dupont có ý nghĩa lớn đối với quản trị DN thể hiện ở chỗ có thể đánh giá đầy đủ và khách quan các nhân tố tác động đến hiêu quả sản xuất kinh doanh từ đó tiến hành công tác cải tiến tổ chức quản lý của doanh nghiệp.

———-&&———-

Theo dõi

Get every new post delivered to your Inbox.

Join 56 other followers