Phân loại rủi ro

Phân loại rủi ro

(Tác giả: Paul Embrechts,  Hansjorg Furrer, Roger Kaufmann – Người dịch: Lê Văn Tuấn)

Sự sụt giảm của cổ phiếu, tỉ lệ lãi suất, sự tăng lên đột biến của tuổi thọ, bên cạnh lượng dự phòng không hợp lí và những quyết định quản trị sai lầm đã dẫn đến sự ổn định trong tài chính của các công ty (bao gồm các công ty bảo hiểm) gặp phải những rủi ro lớn hơn so với trước. Ban điều hành, những người quản lí rủi ro, chuyên gia định phí bảo hiểm, bộ chuẩn kế toán và những người ban hành chính sách đều đóng vai trò ở trong đó. Tình trạng thanh khoản của nhiều công ti đang bị đe dọa đã khiến những nhà hoạnh định chính sách phải xem xét lại bộ khung pháp lí đã sử dụng lâu nay. Trong cả hai lĩnh vực bảo hiểm và ngân hàng, mục đích trọng tâm là nhằm tạo ra bộ khung giám sát thận trọng đối vởi rủi ro của mỗi công ty.

Trong lĩnh vực ngân hàng, bộ khung pháp lí được xây dựng bởi Basel Committee on Banking Supervision (Ủy ban Basel), gọi là Hiệp ước Basel.

Hiệp ước Basel I (ra đời năm 1988), tập trung vào những kỹ thuật để đo lường và quản trị rủi ro thị trường và rủi ro tín dụng. Rủi ro thị trường là rủi ro mà giá trị của những khoản đầu tư thay đổi tùy thuộc vào sự biến động của các nhân tố rủi ro thị trường. Các nhân tố rủi ro thị trường tiêu biểu là: giá chứng khoán & chỉ số bất động sản, lãi suất, tỉ giá hối đoái, giá cả hàng hóa. Rủi ro tín dụng là rủi ro của việc không nhận được những khoản trả lại đã quy ước trên những khoản đầu tư chưa hết hạn (như vốn, trái phiếu), lí do là bởi sự phá sản của bên mượn.

Hiệp ước Basel II (ra đời năm 2004) với mục tiêu nhằm thay đổi những điểm mất cân bằng khá phổ biến trong Basel I. Đi kèm với những yêu cầu nhiều hơn về vốn cho rủi ro thị trường và rủi ro tín dụng, Ủy ban Basel đã giới thiệu một phạm trù rủi ro mới – rủi ro hoạt động – với mục đích là bắt được “những rủi ro không phải là rủi ro thị trường và rủi ro tín dụng”.  Rủi ro hoạt động được lựa chọn để đưa vào Basel II bởi  sự thúc đẩy từ những sự kiện như vụ thất bại của ngân hàng Barings năm 1995. Ủy ban Basel định nghĩa rủi ro hoạt động là rủi ro của sự thua lỗ mà nguyên nhân đến từ những quy trình từ bên trong bị lỗi hay không đồng bộ, từ con người hay hệ thống, và từ những sự kiện bên ngoài. Basel II có bao gồm rủi ro pháp lí – rủi ro phát sinh từ việc bên đối tác không đủ điều kiện pháp lí tham gia hợp đồng, nhưng không có rủi ro chiến lược – rủi ro mà sự thua lỗ đến từ những quyết định chiến lược tồi; và cũng không bao gồm rủi ro thương hiệu – rủi ro mà sự thua lỗ đến từ sự mất tin tưởng. Ví dụ về rủi ro hoạt động như: máy móc/kỹ thuật bị lỗi, các chi tiết ghi trong hợp đồng kinh doanh không sử dụng được, sai sót trong quá trình truyền dữ liệu, gian lận, … Yêu cầu về vốn trong Basel II vẫn giữ nguyên như Basel I: ngân hàng phải nắm giữ một lượng vốn tối thiểu là 8% trên tổng tài sản đã điều chỉnh rủi ro.

(Hiệp ước Basel III ra đời năm 2010 – sau khi bài báo này đươc viết).

Trong lĩnh vực bảo hiểm, bộ quy tắc bảo hiểm thay đổi nhanh trong theo sự khai sinh những nguyên tắc cơ bản về rủi ro. Dựa trên những phát hiện của Helmut Muller năm 97, người ta nhận ra rằng cần có một sự xem xét lại căn bản về sự định giá toàn diện các vị thế tài chính của các công ty bảo hiểm. Bao gồm sự ảnh hưởng giữa tài sản và số tiền phải trả, hệ thống kế toán và các phương pháp tính toán khả năng thanh toán cận biên.

Năm 2001, Ủy ban châu Âu đã thực thi một dự án tên là Solvency II. Mục tiêu then chốt của Solvency II là nhằm buộc chặt lợi nhuận của đối tượng mua bảo hiểm với sự định giá toàn diện về rủi ro trong hồ sơ của công ty.

Một hệ thống giám sát khôn ngoan sẽ không cố gắng cho mục tiêu không-thất bại ; trong thị trường tự do, sự thất bại luôn xảy ra. Đúng hơn là, những khung giám sát khôn ngoan được thiết kế để chỉ những biến động suôn sẻ của các danh mục được bảo hiểm phòng khi có những khủng hoảng tài chính. Giai đoạn 1 của Solvency II bắt đầu từ năm 2001, được thiết lập bởi London Working Group, chủ tịch là Paul Sharma – thành viên của FSA (Financial Services Authority). Bản báo cáo của Sharma được công bố năm 2002, bao gồm những thất bại thực sự và những tình huống thoát hiểm trong giai đoạn 1996-2001. Giai đoạn 2 kéo dài từ năm 2003 – 2007, được thiết kể nhằm phát triển bộ quy tắc chi tiết hơn.  Giai đoạn 3, năm 2010, nhằm thực thi những chuẩn mực mới cũng như trong điều luật quốc tế.

Trái tim của Basel II và Solvency II nằm ở cấu trúc tam trụ. Trụ cột 1 xác định yêu cầu tài chính tối thiểu; trụ cột 2 dành cho các quá trình xem xét giám sát; trụ cột 3 xác định các yêu cầu công khai. Yêu cầu tài chính tối thiểu được hiểu là vốn có sẵn trên vốn kinh tế của một công ty. Vốn kinh tế là lượng vốn cần có để phòng ngừa rủi ro trong tình huống thua lỗ. Mối liên kết vốn có sẵn và vốn kinh tế chỉ thực sự có ý nghĩa nếu luôn đảm bảo sự nhất quản giữa định giá và quản trị rủi ro. Sự khởi đầu mạnh mẽ của văn hóa đánh giá theo thị trường trong những năm 1990 đã đem lại những thành quả hài hòa  lớn trong ngân hàng & bảo hiểm (ở giai đoạn này).

Ghi chú:  Trên đây là đoạn dịch phần mở đầu, phần tiếp theo – trình bày các mô hình toán & phương pháp tính các loại rủi ro – bạn đọc trong bài báo (http://www.math.ethz.ch/~embrechts/ftp/PE_HJF_RK_2006.pdf).

————–&&————–


Gửi phản hồi

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s

Theo dõi

Get every new post delivered to your Inbox.

Join 48 other followers

%d bloggers like this: